Mục tiêu: Khảo sát một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh u máu sơ sinh tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương từ tháng 7/2024 đến tháng 7/2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 141 bệnh nhân được chẩn đoán u máu sơ sinh đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 7/2024 đến tháng 7/2025.
Kết quả: Trong tổng số 141 bệnh nhân nghiên cứu, tuổi trung bình của các bệnh nhân đến khám là 0,51 tuổi. 52 trẻ nam (36,88%), 89 trẻ nữ (63,12%); 130 trẻ (92,2%) thuộc thể nông, 11 trẻ (7,8%) thuộc thể hỗn hợp. Cân nặng trung bình khi sinh 3062g, tuổi mẹ trung bình 28,92 tuổi, chỉ có 5 bệnh nhân (3,55%) có tiền sử họ hàng bậc I có u máu. Trong tổng số các bệnh nhân, con lần 1 chiếm đa số (61,11%), con lần 2 chiếm 30,56%, chỉ có 8,33% là con lần 3. Tổn thương u máu xuất hiện nhiều nhất ở đầu mặt cổ (43,97%); ít gặp hơn ở thân mình (23,4%) và chi trên (19,86%); ít gặp nhất ở chi dưới (12,77%). 3 bệnh nhân (2,13%) có tiền sử liên quan đến thai sản; và 3 bệnh nhân (2,13%) có biến chứng loét và chảy máu.
Kết luận: U máu sơ sinh là tổn thương lành tính, hay gặp ở trẻ nữ, ít có mối liên quan giữa u máu và các yếu tố nguy cơ như tuổi của mẹ khi sinh cao, sơ sinh nhẹ cân, tiền sử gia đình, tiền sử sản khoa. Tổn thương gặp nhiều nhất ở vùng đầu cổ và ít gặp nhất ở chi dưới.