Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ11-NCKH 22/08/2025

12. PHÂN LOẠI NEER VÀ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG SAU PHẪU THUẬT NẸP VÍT KHÓA ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN CỔ PHẪU THUẬT XƯƠNG CÁNH TAY

Trần Quốc Doanh1,2,3,4, Lê Văn Cảm1,3,5,6, Nguyễn Ngọc Toàn1,3, Phạm Ngọc Thắng1,3, Hoàng Ngọc Khánh1,3, Nguyễn Ảnh Sang1,2,3,4, Đặng Hoàng Anh5,6
1 Vietnam Military Medical University
2 Military Hospital 175
3 Học viện Quân y
4 Bệnh viện Quân y 175
5 Military Hospital 17
6 Bệnh viện Quân y 17
Tác giả liên hệ: danghoanganh.hvqy@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD11.2804
39 Lượt xem
21 Lượt tải xuống
Tóm tắt

kết hợp xương nẹp vít khóa điều trị gãy kín cổ phẫu thuật xương cánh tay.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang kết hợp tiến cứu theo dõi dọc được thực hiện trên 51 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán gãy kín cổ phẫu thuật xương cánh tay, điều trị bằng phương pháp phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít khóa tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 1/2023 đến tháng 6/2025. Phân loại Neer được áp dụng dựa trên phim X quang trước mổ. Kết quả chức năng được đánh giá bằng thang điểm Constant-Murley sau 6 tháng.

Kết quả: Sau 6 tháng, điểm Constant-Murley trung bình đạt 70,36 ± 7,36, đa số bệnh nhân phục hồi chức năng vai tốt hoặc rất tốt. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm Constant-Murley giữa các nhóm gãy theo phân loại Neer (2 phần: 70,72 ± 7,10 điểm; 3 phần: 68,20 ± 7,91 điểm; 4 phần: 73,39 ± 6,10 điểm; p > 0,05). Việc sử dụng chỉ siêu bền hoặc vít can-ca cũng không ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả phục hồi chức năng. Tuổi là yếu tố nguy cơ độc lập duy nhất liên quan nghịch với điểm Constant-Murley (r = -0,696, p < 0,05). Góc cổ-thân phục hồi gần giải phẫu giúp cải thiện kết quả (r = 0,3617, p < 0,05). Tỷ lệ biến chứng thấp (1,96%).

Kết luận: Phẫu thuật nẹp vít khóa cho gãy kín cổ phẫu thuật xương cánh tay giúp phục hồi chức năng vai tốt, không phụ thuộc vào phân loại Neer nếu tối ưu kỹ thuật và phục hồi chức năng. Tuổi là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả.

Tài liệu tham khảo
[1]
Vishal A, Ganesan G.R. Conservative versus surgical management of proximal humerus fractures. IOSR Journal of Dental and Medical Sciences, 2014, 13 (12): 43-45. Google Scholar
[2]
Neer C.S. Displaced proximal humeral fractures. Part I: Classification and evaluation. The Journal of Bone and Joint Surgery. American volume, 1970, 52 (6): 1077-1089. Google Scholar
[3]
Sang N.A, Mung P.D, Ngoc N.H et al. Neer classification on X-ray and computed tomography of patients treated proximal humerus fracture by surgery at Military Hospital 175. 9th International Conference on the Development of Biomedical Engineering in Vietnam, Springer Nature Switzerland, 2024. Google Scholar
[4]
Constant C.R, Murley A. A clinical method of functional assessment of the shoulder. Clinical orthopaedics and related research, 1987, 214: 160-164. Google Scholar
[5]
Südkamp N, Bayer J, Hepp P et al. Open reduction and internal fixation of proximal humeral fractures with use of the locking proximal humerus plate. Results of a prospective, multicenter, observational study. J Bone Joint Surg Am, 2009, 91 (6): 1320-1328. Google Scholar
[6]
Clement N.D, Duckworth A.D, McQueen M.M et al. The outcome of proximal humeral fractures in the elderly: predictors of mortality and function. Bone Joint J, 2014, 96-b (7): 970-977. Google Scholar