Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ5-NCKH 06/05/2025

1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TRÊN BỆNH NHÂN MẮC TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CƠ SỞ 3

Trương Hoàng Nhã Khuyên1,2, Lê Thị Hồng Ngọc1,2, Bùi Thị Yến Nhi3,4, Trần Hòa An1,2, Tô Lý Cường1,2, Trần Quang Tú1,2
1 University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh city
2 Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
3 University Medical Center Ho Chi Minh city facility 3
4 Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 3
Tác giả liên hệ: tranquangtu@ump.edu.vn
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD5.2434
37 Lượt xem
18 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân đến khám và điều GERD tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 3.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thông qua hồi cứu dữ liệu được thực hiện trên 192 đơn thuốc/phiếu chỉ định không dùng thuốc của bệnh nhân mắc GERD đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 3 từ tháng 1/2024 đến tháng 12/2024.

Kết quả: Bệnh nhân nữ chiếm đa số (60,9%), tuổi trung vị mắc GERD ở nữ giới là 40,0 (31,5-57,0), cao hơn có ý nghĩa so với nam giới 35,0 (29,0-48,0), p = 0,009. Đa số nữ giới mắc GERD có BMI ở mức bình thường (73,5%), nam giới thừa cân (38,7%) và béo phì (29,3%) mắc GERD nhiều hơn, p = 0,001. Huyết áp trung vị của nam mắc GERD 125,0 (118,0-136,0) mmHg cao hơn nữ mắc GERD 120,0 (108,0-128,0) mmHg, p = 0,001. Hầu hết những bệnh nhân mắc GERD đều có các triệu chứng y học cổ truyền (77,1%) và y học hiện đại (93,2%). Triệu chứng đắng miệng thường gặp ở người lớn tuổi (13,8%), đầy bụng và buồn nôn - nôn thường thấy ở người trẻ hơn. Viêm dạ dày tá tràng là bệnh đi kèm thường gặp trong số những người mắc GERD (24%).

Kết luận: Có sự phân hóa về tuổi, BMI, huyết áp, bệnh đồng mắc của người mắc GERD theo giới tính và sự phân hóa về triệu chứng GERD theo các nhóm tuổi.

Tài liệu tham khảo
[1]
Fass R, Gastroesophageal Reflux Disease, N Engl J Med, 2022, 387 (13): 1207-1216. Google Scholar
[2]
Eusebi L.H, Ratnakumaran R, Yuan Y et al, Global prevalence of, and risk factors for, gastro-oesophageal reflux symptoms: a meta-analysis, Gut, 2018, 67 (3): 430-440. Google Scholar
[3]
Nguyễn Thị Bay, Lê Thị Lan Hương, Bệnh học và điều trị nội khoa kết hợp đông tây y, tập 2, Nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh, 2022, trang 19-41. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Ngọc Linh, Nguyễn Thanh Tú, Khảo sát thể bệnh y học cổ truyền của bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội, Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 520 (1A): 209-212. Google Scholar
[5]
Nguyễn Chí Tùng, Nguyễn Viết Lợi, Hồ Ngọc Điệp và cộng sự, Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng bệnh trào ngược dạ dày thực quản có tổn thương thực quản, Tạp chí Y Dược thực hành 175, 2023, 32 (8): 61-68. Google Scholar
[6]
Bordin D.S, Livzan M.A, Gaus O.V et al, Drug-Associated Gastropathy: Diagnostic Criteria, Diagnostics (Basel), 2023, 13 (13): 2220. Google Scholar
[7]
Wang K, Wang S, Chen X, The Causal Effects between Mood Swings and Gastrointestinal Diseases: A Mendelian Randomization Study, Alpha Psychiatry, 2024, 24 (4): 533-540. Google Scholar
[8]
Wang J.J, Liang K.L, Lin W.J et al, Influence of age and sex on taste function of healthy subjects, PLoS One, 2020, 15 (6): e0227014. Google Scholar
[9]
Shaheen N.J, Falk G.W, Iyer P.G et al, Diagnosis and Management of Barrett's Esophagus: An Updated ACG Guideline, Am J Gastroenterol, 2022, 117 (4): 559-587. Google Scholar
[10]
Yuan S, Chen J, Ruan X et al, Smoking, alcohol consumption, and 24 gastrointestinal diseases: Mendelian randomization analysis, Elife, 2023, 12: e84051. Google Scholar