Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ7-HNKH Bệnh viện K 22/05/2025

20. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BUỒNG TRỨNG ĐIỀU TRỊ HOÁ CHẤT HẬU PHẪU TẠI KHOA NỘI 6 BỆNH VIỆN K NĂM 2024

Nguyễn Thị Linh1,2, Nguyễn Thị Hồng1,2, Đặng Tiến Giang3,4
1 K Hospital
2 Bệnh viện K
3 Department of Internal Medicine 6, K Hospital
4 Khoa Nội 6, Bệnh viện K
Tác giả liên hệ: bsdtgiang@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD7.2401
16 Lượt xem
14 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm khảo sát các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh ung thư buồng trứng sau điều trị hóa chất tại Khoa Nội 6, Bệnh viện K năm 2024.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu được thực hiện trên 120 người bệnh ung thư buồng trứng điều trị hóa chất tại Khoa Nội 6, Bệnh viện K từ tháng 03/2024 đến tháng 12/2024. CLCS được đánh giá bằng bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30 tại ba thời điểm trước điều trị, sau 3 chu kỳ hóa chất, và khi kết thúc điều trị.

Kết quả và kết luận: Tổng cộng 120 người bệnh tham gia nghiên cứu, với tuổi trung bình 52,7 ± 8,5 tuổi. Điểm CLCS chung trước điều trị là 55,4 ± 12,3, cải thiện lên 63,1 ± 9,8 sau 3 chu kỳ hóa chất, nhưng giảm nhẹ xuống 60,5 ± 10,2 khi kết thúc điều trị. Các triệu chứng chính ảnh hưởng đến CLCS bao gồm mệt mỏi, buồn nôn, đau và mất ngủ. Điểm chức năng thể chất ban đầu là 52,4 ± 11,2 tăng nhẹ lên 61,7 ± 10,9 sau 3 chu kỳ, và giảm còn 59,2 ± 11,0 vào cuối điều trị. Điểm số chức năng cảm xúc và xã hội có xu hướng tương tự. Tình trạng hôn nhân và trình độ học vấn có mối liên quan rõ rệt với điểm số CLCS (p < 0,05).

Kết luận: Nghiên cứu cung cấp cơ sở quan trọng giúp cải thiện chăm sóc  toàn diện và hỗ trợ nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh ung thư buồng trứng sau điều trị hóa chất.

Tài liệu tham khảo
[1]
Wilson IB, Cleary PD. Linking clinical variables with health-related quality of life. A conceptual model of patient outcomes. JAMA. 1995;273(1):59-65. Google Scholar
[2]
Guyatt GH, Feeny DH, Patrick DL. Measuring health-related quality of life. Ann Intern Med. 1993;118(8):622-629. doi:10.7326/0003-4819-118-8-199304150-00009 Google Scholar
[3]
Testa MA, Simonson DC. Assessment of quality-of-life outcomes. N Engl J Med. 1996;334(13):835-840. doi:10.1056/NEJM199603283341306 Google Scholar
[4]
Oldridge N, Gottlieb M, Guyatt G, Jones N, Streiner D, Feeny D. Predictors of health-related quality of life with cardiac rehabilitation after acute myocardial infarction. J Cardiopulm Rehabil. 1998;18(2):95-103. doi:10.1097/00008483-199803000-00002 Google Scholar
[5]
Boscolo-Rizzo P, Maronato F, Marchiori C, Gava A, Da Mosto MC. Long-term quality of life after total laryngectomy and postoperative radiotherapy versus concurrent chemoradiotherapy for laryngeal preservation. Laryngoscope. 2008;118(2):300-306. doi:10.1097/MLG.0b013e31815a9ed3 Google Scholar
[6]
Thatcher N, Hopwood P, Anderson H. Improving quality of life in patients with non-small cell lung cancer: research experience with gemcitabine. Eur J Cancer. 1997;33 Suppl 1:S8-13. doi:10.1016/s0959-8049(96)00336-x Google Scholar
[7]
Pötter R, Tanderup K, Schmid MP, et al. MRI-guided adaptive brachytherapy in locally advanced cervical cancer (EMBRACE-I): a multicentre prospective cohort study. The Lancet Oncology. 2021;22(4):538-547. doi:10.1016/S1470-2045(20)30753-1 Google Scholar
[8]
Montazeri A, McEwen J, Gillis CR. Quality of life in patients with ovarian cancer: current state of research. Support Care Cancer. 1996;4(3):169-179. doi:10.1007/BF01682336 Google Scholar
[9]
Kornblith AB, Thaler HT, Wong G, et al. Quality of life of women with ovarian cancer. Gynecol Oncol. 1995;59(2):231-242. doi:10.1006/gyno.1995.0014 Google Scholar
[10]
Tú NQ, Thu VT, Phúc PĐ, Ba ĐC, Minh ĐTN. Đánh giá chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư tại Khoa Ung thư tổng hợp, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy. Published online August 12, 2022. doi:10.52389/ydls.v17iDB8.1332 Google Scholar