Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ7-HNKH Bệnh viện K 22/05/2025

15. MỐI LIÊN QUAN GIỮA TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA METHOTREXATE LIỀU CAO TRÊN NGƯỜI BỆNH UNG THƯ XƯƠNG TẠI KHOA NỘI NHI BỆNH VIỆN K

Nguyễn Đinh Lê 1,2, Nguyễn Thị Bình3,4
1 Hanoi Medical University
2 Đại học Y Hà Nội
3 Department of Pediatrics, K Hospital
4 Khoa Nội Nhi Bệnh Viện K
Tác giả liên hệ: thaobinhnguyen190586@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD7.2396
19 Lượt xem
15 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số tác dụng không mong muốn của phác đồ Methotrexate liều cao trên người bệnh ung thư xương và nhận xét mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với các tác dụng không mong muốn này.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 42 người bệnh chẩn đoán ung thư xương được điều trị hóa chất Methotrexat liều cao tại khoa Nội Nhi Bệnh Viện K từ 02/2024 đến 10/2024.

Kết quả: Nhóm tuổi thường gặp nhất là 10-20 tuổi chiếm tỷ lệ 78,4%, bệnh thường gặp hơn ở nam giới (57,1%). Bệnh phân bố chủ yếu ở vùng nông thôn và miền núi (74,8%). Có 21,4% người bệnh di căn tại thời điểm chẩn đoán, và 33,3% các người bệnh có tình trạng thiếu cân/suy dinh dưỡng trong quá trình điều trị. Các triệu chứng trên lâm sàng gồm 81% người bệnh có biểu hiện nôn, buồn nôn, chán ăn và rụng tóc, chỉ 19% người bệnh có tiêu chảy, tỷ lệ giảm bạch cầu cao với 90,5%. Tỷ lệ ngộ độc Methotrexate là 52,4%. Nhóm người bệnh thiếu cân/suy dinh dưỡng gặp tình trạng viêm niêm mạc miệng và ngộ độc MTX với tỷ lệ cao hơn nhóm đủ cân (giá trị p lần lượt là 0,026 và 0,03).

Kết luận: Người bệnh sacorma xương có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao. Tình trạng dinh dưỡng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với các tác dụng không mong muốn của MTX là viêm niêm mạc miệng và ngộ độc Methotrexate.

Tài liệu tham khảo
[1]
Dũng LC. Bướu xương: Lâm sàng - hình ảnh y học, giải phẫu bệnh và điều trị. In: Sacoom Tạo Xương. Nhà xuất bản Y học; 2003. Google Scholar
[2]
Minh NT. Nhận xét về đặc điểm lâm sàng, X quang, mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư xương nguyên phát tại bệnh viện K. In: Trường Đại học Y Hà Nội; 2000. Google Scholar
[3]
Whelan JS, Bielack SS, Marina N, et al. EURAMOS-1, an international randomised study for osteosarcoma: results from pre-randomisation treatment. Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol. 2015;26(2):407-414. Google Scholar
[4]
Phương PĐ, Kiên ĐH. Kết quả điều trị Sarcoma xương giai đoạn II bằng hóa chất phác đồ MAP bổ trợ trước phẫu thuật tại Bệnh viện K. VMJ. Published online 2022. Google Scholar
[5]
Rawat N, Chanu SE, Chauhan V. Chemotherapy Associated Side Effects among Children with Cancer. Int J Health Sci Res. 2021;11(2):236-242. Google Scholar
[6]
Sanguanboonyaphong P, Komvilaisak P, Suwannaying K, et al. Predictors of Chemotherapy Induced Adverse Events in Pediatric Osteosarcoma Patients. Asian Pac J Cancer Prev APJCP. 2022;23(1):93-100. Google Scholar
[7]
Hải TTT. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tác dụng phụ của Methotrexate liều cao trong điều trị Sarcoma xương tại Bệnh viện K. Đại Học Hà Nội. Published online 2019. Google Scholar
[8]
Özalp Gerçeker G, Yildirim BG, Arıcıoğlu Sülün A, Bektaş M, Hekimci Özdemir H, Malbora B. The effect of chemotherapy on symptoms and nutritional status in children with cancer. Eur J Oncol Nurs Off J Eur Oncol Nurs Soc. 2022;61:102206. Google Scholar