Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ7-HNKH Bệnh viện K 22/05/2025

14. KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG VỀ XỬ TRÍ NÔN DO HÓA TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH TẠI CÁC KHOA NỘI BỆNH VIỆN K NĂM 2024

Thắng Nguyễn Tất1,2, Tuấn Phạm Minh1,2, Hợp Nguyễn Văn1,2, Khoa Nguyễn Đức1,2
1 K Hospital
2 Bệnh viện K
Tác giả liên hệ: khoa8668@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD7.2395
52 Lượt xem
37 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kiến ​​thức và thái độ của điều dưỡng lâm sàng về việc quản lý nôn do hóa trị (CINV) cho bệnh nhân ung thư tại các khoa hóa trị Bệnh viện K năm 2024.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2024 tại các khoa hóa trị của Bệnh viện K. Tổng cộng có 137 điều dưỡng lâm sàng đáp ứng các tiêu chí tuyển chọn đã tham gia vào nghiên cứu. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi tự trả lời có cấu trúc bao gồm thông tin nhân khẩu học, kiến ​​thức và thái độ liên quan đến việc quản lý CINV. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS phiên bản 20.0.

Kết quả:

Hầu hết những người tham gia là nữ (89,1%) và độ tuổi 25–35 (67,1%). Tổng cộng có 92% đạt điểm kiến ​​thức từ trung bình đến tốt. Tỷ lệ cao cho thấy kiến ​​thức vững chắc về tác động của nôn đối với bệnh nhân, các loại thuốc chống nôn thường dùng và các biện pháp can thiệp không dùng thuốc. Chỉ có 32,1% xác định đúng trung tâm nôn trong não là nguyên nhân chính gây ra CINV. Trong khi đó, 69,4% hiểu được cơ chế tác dụng của thuốc chống nôn và 70,8% thường xuyên khuyến khích bệnh nhân áp dụng các biện pháp can thiệp không dùng thuốc. Trình độ học vấn và số năm kinh nghiệm có liên quan đáng kể đến mức độ hiểu biết về quản lý CINV (lần lượt là p < 0,01 và p < 0,05).

Kết luận: Điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện K nhìn chung có nền tảng kiến ​​thức vững chắc và thái độ tích cực đối với việc quản lý tình trạng nôn do hóa trị. Đào tạo chuyên môn liên tục là điều cần thiết để cải thiện hơn nữa chất lượng chăm sóc.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Thị Lan. Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về chăm sóc người bệnh ung thư có buồn nôn và nôn do hóa trị tại Bệnh viện Ung bướu TP. HCM. Tạp chí Y học TP. HCM. 2020;24(3):151–157. Google Scholar
[2]
Bộ Y tế. Báo cáo tổng kết công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh ung thư tại các bệnh viện chuyên khoa. Hà Nội: Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; 2022. Google Scholar
[3]
Navari RM. Management of chemotherapy-induced nausea and vomiting: focus on newer agents and new uses for older agents. Drugs. 2013;73(3):249–262. Google Scholar
[4]
Hesketh PJ. Chemotherapy-induced nausea and vomiting. N Engl J Med. 2008;358(23):2482–94. Google Scholar
[5]
Jordan K, Jahn F, Aapro M. Recent developments in the prevention of chemotherapy-induced nausea and vomiting (CINV): a comprehensive review. Ann Oncol. 2015;26(6):1081–1090. Google Scholar
[6]
Bloechl-Daum B, et al. Delayed nausea and vomiting reduce patients’ quality of life after chemotherapy. J Clin Oncol. 2006;24(27):4472–8. Google Scholar
[7]
Molassiotis A, et al. Effectiveness of a nurse-led intervention on CINV: a randomized controlled trial. J Pain Symptom Manage. 2013;45(5):856–868. Google Scholar
[8]
Roscoe JA, et al. Anticipatory nausea and vomiting. Support Care Cancer. 2009;17(5):461–468. Google Scholar
[9]
Smith L, et al. Nurses’ attitudes and confidence towards management of chemotherapy side effects: A cross-sectional study in Australia. Eur J Oncol Nurs. 2019;39:47–52. Google Scholar