Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện tại Khoa Ngoại gan mật tụy Bệnh viện K từ tháng 01/2017 đến tháng 10/2024 nhằm nhận xét kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật cắt gan do u Klatskin. Nghiên cứu bao gồm 22 người bệnh được chẩn đoán và phẫu thuật cắt gan do u đường mật rốn gan (típ IIIa, IIIb và IV) có bệnh án ghi chép đầy đủ. Kết quả cho thấy tỉ lệ nam giới mắc bệnh cao hơn nữ giới (68,18% so với 31,82%), với độ tuổi trung bình là 63,1 ± 9,2 tuổi. Lý do vào viện chủ yếu là vàng da (59,1%) và đau bụng hạ sườn phải (36,4%). Đa số người bệnh được dẫn lưu đường mật trước mổ (81,8%) và phẫu thuật cắt gan lớn (59,1%) với chiều dài vết mổ trung bình 23,5 ± 7,9 cm và thời gian phẫu thuật trung bình 241,5 ± 61,1 phút. Các hoạt động chăm sóc sau mổ được thực hiện đầy đủ, với 100% người bệnh được theo dõi dấu hiệu sinh tồn và chăm sóc vết mổ ít nhất 2 lần/ngày trong 3 ngày đầu. Thời gian sử dụng kháng sinh trung bình là 11,70 ± 4,31 ngày, thời gian rút dẫn lưu ổ bụng trung bình là 9,07 ± 2,89 ngày. Biến chứng sớm sau mổ thường gặp là cổ trướng (22,7%), suy gan (13,6%) và rò mật (9,1%). Đánh giá trước khi ra viện cho thấy 63% người bệnh có kết quả chăm sóc tốt. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của điều dưỡng trong việc theo dõi sát và chăm sóc toàn diện người bệnh sau phẫu thuật cắt gan do u Klatskin để phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến chứng.
11. KẾT QUẢ CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT CẮT GAN DO U KLATSKIN TẠI KHOA NGOẠI GAN MẬT TỤY BỆNH VIỆN K
33
Lượt xem
19
Lượt tải xuống
Từ khóa
U Klatskin
cắt gan
chăm sóc sau mổ
kết quả chăm sóc
điều dưỡng
Tóm tắt
Tài liệu tham khảo
[1]
José María Huguet, Miriam Lobo, José Mir Labrador, et al (2019). Diagnostic-therapeutic management of bile duct cancer. World journal of clinical cases. 7 (14), 1732.
Google Scholar
[2]
WILLIAM A ALTEMEIER, Edward A Gall, Max M Zinninger, et al (1957). Sclerosing carcinoma of the major intrahepatic bile ducts. AMA archives of surgery. 75 (3), 450-461.
Google Scholar
[3]
Gerald Klatskin (1965). Adenocarcinoma of the hepatic duct at its bifurcation within the porta hepatis: an unusual tumor with distinctive clinical and pathological features. The American journal of medicine. 38 (2), 241-256.
Google Scholar
[4]
Đỗ Hữu Liệt (2015). Vai trò phẫu thuật triệt để trong điều trị ung thư đường mật vùng rốn gan. Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Google Scholar
[5]
Trần Đình Thơ, Nguyễn Tiến Quyết, Nguyễn Quang Nghĩa (2008). Kết quả điều trị ung thư đường mật ngoài gan. Tạp chí Y Học Việt Nam.
Google Scholar
[6]
D Castaing. Les cholangiocarcinomes biliaires: Chirurgie du foie et des voies biliaires. Annales de chirurgie (Paris) 1998;177-181.
Google Scholar
[7]
Nguyễn Hồng Trang và cộng sự (2021). Đánh giá kết quả chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy. 16 155-162.
Google Scholar
[8]
Lê Văn Thành, Vũ Văn Quang, Nguyễn Văn Quỳnh (2023). Mô tả biến chứng rò mật và tràn dịch màng phổi giữa 2 nhóm cắt gan mở và cắt gan nội soi điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy. 18 98-104.
Google Scholar
[9]
Phạm Thế Anh, Trương Mạnh Cường (2024). Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật cắt gan lớn theo giải phẫu điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Tạp chí Y học Việt Nam. 527 (1B),
Google Scholar
[10]
Kunio Okuda, Robert L Peters, Ian W Simson (1984). Gross anatomic features of hepatocellular carcinoma from three disparate geographic areas. Proposal of new classification. Cancer. 54 (10), 2165-2173.
Google Scholar