Mục tiêu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của áp xe tuyến vú và đánh giá kết quả điều trị áp xe tuyến vú tại khoa Ngoại B Bệnh viện K
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 215 bệnh nhân áp xe vú đã điều trị khỏi tại khoa ngoại B Bệnh viện K
Kết quả: Áp xe tuyến vú thường gặp ở phụ nữ trẻ, chủ yếu trong độ tuổi sinh đẻ (trung bình 27,9 tuổi). Bệnh có liên quan đến tiết sữa với 24,2% bệnh nhân mang thai và 40,5% đang cho con bú. Đa số bệnh nhân có tiền sử bệnh lý tuyến vú (54,4%) và khối áp xe lớn hơn 5cm (61,9%). Trước khi nhập viện, 94,4% đã dùng kháng sinh, 50,7% từng được trích rạch. Về điều trị, phần lớn bệnh nhân (84,7%) cần phẫu thuật cắt lọc rộng, chỉ 15,3% điều trị bằng trích rạch. Đa số ổ áp xe phức tạp (68,4%), trong khi chỉ 31,6% có tổn thương đơn giản. Cấy vi khuẩn dương tính trong 63,6% trường hợp, với tụ cầu vàng là chủng phổ biến nhất (91,5%). Tỷ lệ điều trị khỏi đạt 91,6%, trong khi thất bại điều trị liên quan đến ổ áp xe lớn (>5cm) và tổn thương lan tỏa.
Kết luận: Áp xe tuyến vú là một tình trạng nhiễm trùng nặng ở vú do vi khuẩn gây ra. Loại vi khuẩn hay gặp là Staphylococcus aureus. Áp xe tuyến vú có thể phát triển nặng nếu điều trị không triệt để. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 215 người bệnh áp xe vú phức tạp được chăm sóc hậu phẫu theo quy trình của khoa trong 6 tháng. Kết quả đánh giá sau 6 tháng : tỷ lệ khỏi bệnh 91,6%, tỷ lệ tai biến biến chứng: không ghi nhận trường hợp nào.