Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ4-NCKH 15/04/2025

24. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở TRẺ EM BỊ VIÊM MŨI DỊ ỨNG TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHÒNG NĂM 2024

Nguyễn Quang Hùng1,2, Nguyễn Quang Trường3,4
1 Viet Tiep Friendship Hospital
2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp
3 Hai Phong Children’s Hospital
4 Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
Tác giả liên hệ: hungtintmh125@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD4.2341
24 Lượt xem
18 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống ở trẻ em bị viêm mũi dị ứng đến khám tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2024.

Phương pháp: Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 136 trẻ em từ 6-14 tuổi mắc viêm mũi dị ứng tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng. Thang đo PRQLQ được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống ở trẻ bị viêm mũi dị ứng.

Kết quả: Độ tuổi trung bình của trẻ là 10,03 ± 2,26. Tổng điểm chất lượng cuộc sống theo thang đo PRQLQ cho thấy 95,6% bệnh nhi bị ảnh hưởng nhiều và rất nhiều. Tiền sử mắc bệnh dị ứng có sự liên quan với mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

Kết luận: Viêm mũi dị ứng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống của trẻ em ở cả 5 khía cạnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Trần Thái Sơn, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả điều trị miễn dịch đặc hiệu ở trẻ 6-14 tuổi mắc bệnh viêm mũi dị ứng do dị nguyên Dermatophagoides pteronyssinus, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2018. Google Scholar
[2]
Vũ Trung Kiên, Thực trạng viêm mũi dị ứng của học sinh trung học cơ sở thành phố Thái Bình, Hải Phòng và hiệu quả điều trị đặc hiệu đường dưới lưỡi bằng dị nguyên Dermatophagoides pteronyssinus, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Thái Bình, 2013. Google Scholar
[3]
Meltzer E.O et al, Burden of allergic rhinitis: results from the Pediatric Allergies in America survey, J Allergy Clin Immunol, 2009, 124 (3 Suppl), p. S43-70. Google Scholar
[4]
Bousquet J et al, Allergic Rhinitis and its Impact on Asthma (ARIA) 2008, Allergy, 2008, 63 (s86) , p. 8-160. Google Scholar
[5]
Settipane R.A, Charnock D.R, Epidemiology of rhinitis: allergic and nonallergic, Clin Allergy Immunol, 2007, 19, p. 23-34. Google Scholar
[6]
Bộ Y tế, Gia tăng bệnh nhân mắc viêm mũi xoang, đến 70% là viêm mũi dị ứng, 2024, [cited 2024 16/12]; Available from: https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/gia-tang-benh-nhan-mac-viem-mui-xoang-en-70-la-viem-mui-di-ung. Google Scholar
[7]
Juniper E.F, Guyatt G.H, Development and testing of a new measure of health status for clinical trials in rhinoconjunctivitis, Clin Exp Allergy, 1991, 21 (1), p. 77-83. Google Scholar
[8]
Nguyễn Văn Trường, Đánh giá sự cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân viêm mũi dị ứng do dị nguyên mạt bụi nhà Dermatophagoides pteronyssinus sau điều trị bằng liệu pháp miễn dịch đường dưới lưỡi, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2011. Google Scholar
[9]
Storms W, Allergic rhinitis-induced nasal congestion: its impact on sleep quality, Prim Care Respir J, 2008, 17 (1), p. 7-18. Google Scholar
[10]
Juniper E.F et al, Measuring quality of life in children with rhinoconjunctivitis, J Allergy Clin Immunol, 1998, 101 (2 Pt 1), p. 163-70. Google Scholar