Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

47. CÁC CHỈ ĐỊNH CẮT TỬ CUNG TRONG VÀ SAU ĐẺ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Đỗ Tuấn Đạt1,2,3,4, Mai Trọng Hưng1,3, Phan Thị Huyền Thương1,3,5,6
1 Hanoi Obstetrics and Gynecology Hospital
2 Hanoi Medical University
3 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
4 Trường Đại học Y Hà Nội
5 VNU University of Medicine and Pharmacy
6 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả liên hệ: drdodatpshn@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2313
19 Lượt xem
16 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả các chỉ định cắt tử cung trong và sau đẻ và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 276 trường hợp sản phụ cắt tử cung trong và sau đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ năm 2019-2023.

Kết quả: Trong khoảng thời gian nghiên cứu 5 năm, có 276 trường hợp cắt tử cung trong và sau đẻ. Nhóm nguyên nhân phải cắt tử cung phần lớn là chảy máu sau đẻ (98,1%), trong đó các chỉ định phổ biến nhất là rau cài răng lược (68,1%), đờ tử cung (13,8%) và u xơ tử cung (10,1%). Chỉ định mổ cắt tử cung chủ động chủ yếu là rau cài răng lược và u xơ tử cung. Chỉ định mổ cắt tử cung cấp cứu chủ yếu là đờ tử cung, rau tiền đạo và vỡ tử cung. Các biện pháp bảo tồn trước khi cắt tử cung trong và sau đẻ chủ yếu là thuốc tăng co tử cung, cầm máu (31,2%), kiểm soát tử cung (15,9%), các kỹ thuật chủ yếu thắt động mạch tử cung, hạ vị (12,7%), khâu cầm máu diện rau bám (7,6%), khâu mũi B-lynch (4,7%).

Kết luận: Cắt tử cung trong và sau đẻ là một phẫu thuật lớn thường được thực hiện để xử lý tình trạng chảy máu sau đẻ nghiêm trọng khi các biện pháp bảo tồn không đem lại hiệu quả, trong đó nguyên nhân hay gặp nhất là chảy máu, cụ thể là rau cài răng lược, đờ tử cung và u xơ tử cung.

Tài liệu tham khảo
[1]
Pettersen S, Falk R.S, Vangen S, Nyflot L.T, Peripartum hysterectomy due to severe postpartum hemorrhage: A hospital‐based study, Acta Obstet Gynecol Scand, 2022, 101, pp. 819-826, doi: 10.1111/aogs.14358. Google Scholar
[2]
Huque S, Roberts I, Fawole B, Chaudhri R, Arulkumaran S, Shakur-Still H, Risk factors for peripartum hysterectomy among women with postpartum haemorrhage: analysis of data from the woman trial, BMC Pregnancy Childbirth, 2018, 18: 186, doi: 10.1186/s12884-018-1829-7. Google Scholar
[3]
Zhang Y, Yan J, Han Q, Yang T, Cai L, Fu Y et al, Emergency obstetric hysterectomy for life-threatening postpartum hemorrhage: a 12-year review, Medicine (Baltimore), 2017, 96: e8443, doi: 10.1097/md.0000 000000008443. Google Scholar
[4]
Hoàng Thị Ngọc Trâm, Nghiên cứu các chỉ định cắt tử cung trong và sau đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong hai giai đoạn 2003-2004 và 2013-2014, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2021. Google Scholar
[5]
Phan Thị Ánh Tuyết, Nhận xét các chỉ định cắt tử cung trong và sau đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 6/2000-6/2005, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2005. Google Scholar
[6]
Wani R.V, Abu-Hudra N.M et al, Emergency peripartum hysterectomy: a 13-year review at a tertiary center in Kuwait, J Obstet Gynaecol India, 2014, 64 (6), pp. 403-408. Google Scholar
[7]
Ngô Minh Thắng, Nhận xét các trường hợp phẫu thuật cắt tử cung trong và sau sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2022. Google Scholar