Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

45. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SAU KHI ÁP DỤNG MÔ HÌNH GIAO TIẾP AIDET CHO ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH NINH BÌNH, NĂM 2024

Trịnh Thị Thu Thủy1,2, Lê Thị Tuyến1,2
1 Ninh Binh Obstetric and Pediatric Hospital
2 Bệnh viện Sản - Nhi Ninh Bình
Tác giả liên hệ: thuytrinh.nb@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2311
29 Lượt xem
21 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: (1) Nhận xét tỷ lệ Điều dưỡng áp dụng mô hình AIDET khi giao tiếp với người bệnh. (2) Đánh giá hiệu quả của mô hình AIDET tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình.

Đối tượng và Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 140 người bệnh/người nhà người bệnh (NB/NNNB) và 69 Điều dưỡng, Hộ sinh (ĐD).

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ trung bình thực hiện AIDET của ĐD là: thực hiện A (Acknowledge): 97.06% ( SD = 3); thực hiện I (Introduction): 84.03% (SD = 8); thực hiện D (Duration): 91.27% (SD = 3); thực hiện E(Explanation): 96.73% (SD = 3); thực hiện T (Thanks): 81.8%  (SD= 9). Hiệu quả của việc thực hiện AIDET qua tỷ lệ NB/NNNB đánh giá việc thực hiện AIDET của ĐD là: thực hiện A: Trước 60.7%, sau 97.8%; thực hiện I: Trước 33.6%; sau 83.5%; thực hiện D: Trước 53.6%; sau 91.4%; thực hiện E: Trước 64.3%; sau 93.6%; thực hiện T: Trước 30%; sau 90.7%.; tỷ lệ NB/NNNB hài lòng với giao tiếp của ĐD là: Rất không hài lòng: Trước 1.4%; sau 0%; không hài lòng: Trước 2.1%; sau 0%; bình thường: Trước 30%; sau 5.0%; hài lòng: Trước 42.9%; sau 49.3%; rất hài lòng: Trước 23.5%; sau 45.1%.

Kết luận: Việc thực hiện giao tiếp theo mô hình AIDET của ĐD tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình đạt hiệu quả cao, sự khác biệt trước và sau nghiên cứu có ý nghĩa thống kê, đặc biệt là các bước: chào hỏi, thông báo, giải thích cho NB/NNNB tăng lên rõ rệt qua các thời điểm thực hiện. Hiệu quả của việc áp dụng mô hình giao tiếp theo AIDET cho đội ngũ ĐD tại Bệnh viện đã được NB/NNNB đánh giá cao, thể hiện tỷ lệ hài lòng của NB/NNNB sau khi áp dụng mô hình này.

Tài liệu tham khảo
[1]
Tổng kết công tác Công đoàn năm 2023, Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình. Google Scholar
[2]
Chauhan, G., Long, A., 2000. Communication is the essence of nursing care1: breaking bad news. British Journal of Nursing 9 (14), 931e938. Google Scholar
[3]
Võ Thị Thủy (2017). Hiệu quả của chương trình tập huấn giao tiếp của ĐD với mô hình AIDET. Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam, pp.3-55. Google Scholar
[4]
Bộ Y tế (2014), Thông tư quy định về “Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế”, Số: 07/2014/TT-BYT, ngày 25/02/2014. Google Scholar
[5]
Hội Điều dưỡng Việt Nam (2012). Quyết định số 20 /QĐ – HĐD, ngày 10/9/2012, Về việc ban hành Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của điều dưỡng viên Việt Nam. Google Scholar
[6]
Annamma Varghese, et al (2016). Improving Patient Atisfaction Through Implementing AIDET. sigma.nursingrepository.org. Google Scholar
[7]
Nguyễn Thị Ánh Nhung (2019). “Hiệu quả can thiệp giao tiếp của Điều dưỡng thông qua sự hài lòng của người bệnh”. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 23 (5), 268-273. Google Scholar