Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

42. ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA SẢN PHỤ VÀ NGƯỜI THÂN SỬ DỤNG GÓI DỊCH VỤ ĐỠ ĐẺ GIA ĐÌNH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Thị Lý1,2
1 National Hospital of Obstetric and Gynecology
2 Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
Tác giả liên hệ: nguyenly.pstw@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2308
16 Lượt xem
17 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả sự hài lòng của sản phụ và người thân sử dụng gói dịch vụ đỡ đẻ gia đình tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập trên 252 sản phụ đăng ký đẻ thường tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương và có sử dụng gói dịch vụ đỡ đẻ gia đình từ 15/7/2024 đến 31/8/2024. Số liệu thu thập được nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0.

 Kêt quả: Sản phụ sinh con lần đầu chiếm 66,7%; sản phụ có cắt khâu tầng sinh môn chiếm 99,2%; sản phụ được giảm đau trong đẻ có dùng thuốc chiếm 79,4%. Sản phụ và người nhà hài lòng với khả năng tiếp cận dịch vụ đỡ đẻ gia đình về cơ sở vật chất của khoa phòng cũng như thái độ ứng xử và năng lực chuyên môn của nhân viên y tế.

Kêt luận: Sản phụ và người nhà hài lòng với gói dịch vụ đỡ đẻ gia đình, cơ sở vật chất của khoa phòng cũng như thái độ ứng xử và năng lực chuyên môn của nhân viên y tế.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bộ Y tế, Quyết định số 3869/QĐ-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 về việc ban hành Mẫu phiếu và hướng dẫn khảo sát hài lòng của người bệnh và nhân viên y tế. Google Scholar
[2]
Đỗ Tuấn Đạt, Nguyễn Thị Thu Hà, Khảo sát sự hài lòng của sản phụ sau mổ lấy thai tại Khoa Sản thường A3, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2023, Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 535 (1), 262-266. Google Scholar
[3]
Võ Thị Thanh, Trần Quốc Lâm, Sự hài lòng của sản phụ và một số yếu tố ảnh hưởng tại Khoa Sản, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi năm 2023, Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 527 (1B), 304-308. Google Scholar
[4]
Trần Thị Thủy, Nguyễn Duy Ánh, Sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ khám bệnh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội cơ sở 3 năm 2021, Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2021, 4 (4), 110-121. Google Scholar