Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

21. NHẬN XÉT CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH TIM BẨM SINH VÀ KẾT CỤC THAI KỲ TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN 2022 – 2024

Lương Thị Kim Oanh1,2, Tăng Xuân Hải1,2, Trần Anh Tú1,2, Nguyễn Thị Hải Yến1,2, Hồ Thị Thanh Huyền1,2, Ngô Văn Cảnh1,2, Lê Thế Thắng1,2, Nguyễn Thị Hảo1,2
1 Nghe An Obstetric and Pediatric Hospital
2 Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
Tác giả liên hệ: oanhluongkim@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2285
25 Lượt xem
20 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét chẩn đoán trước sinh bệnh tim bẩm sinh và kết cục thai kỳ tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2022-2024.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 185 thai phụ có kết quả siêu âm thai trước sinh bị dị tật tim bẩm sinh, khám và quản lý thai tại Trung tâm Sàng lọc chẩn đoán trước sinh và sơ sinh.

Kết quả: Tuổi thai phát hiện tim bẩm sinh phổ biến từ 21 – 25 tuần chiếm 31,9%. Thông liên thất thường gặp nhất với 19,6%. Tiếp theo là tứ chứng Fallot là 16,7%. Thấp hơn là kênh nhĩ thất và hội chứng thiểu sản tim trái tỷ lệ lần lượt là 11,5% và 9,3%. Kèm theo tăng khoảng sáng sau gáy với tỷ lệ 22%. Bất thường di truyền trong nhóm chọc ối chiếm 54,4%: Trong đó, bất thường số lượng nhiễm sắc thể 77,4%; bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể tỷ lệ 22,6%: gồm DiGeorge, mất đoạn, lặp đoạn trên nhiễm sắc thể số 1, số 2. Dị tật tim bẩm sinh kèm tăng khoảng sáng sau gáy, bất thường di truyền chiếm 82,1%. Có 36,2% dị tật tim bẩm sinh phối hợp bất thường cơ quan khác. Phù thai, thai lưu tỷ lệ thấp 1,6%. Có 5 trẻ mất sau sinh vì tim bẩm sinh nặng chiếm 2,7%. Siêu âm tim sơ sinh có 83,8% bất thường tim được ghi nhận.

Kết luận: Siêu âm tim thai có giá trị cao chẩn đoán bất thường tại tim. Thời điểm siêu âm khảo sát tim thai theo khuyến cáo từ 18 – 22 tuần, tuy có thể sớm hơn.

Tài liệu tham khảo
[1]
Meller C.H., Grinenco S., Aiello H. và cộng sự. (2020). Congenital heart disease, prenatal diagnosis and management. Arch Argent Pediatr, 118(2), e149–e161. Google Scholar
[2]
Oster M.E., Lee K.A., Honein M.A. và cộng sự. (2013). Temporal trends in survival among infants with critical congenital heart defects. Pediatrics, 131(5), e1502-1508. Google Scholar
[3]
Berkley E.M.F., Goens M.B., Karr S. và cộng sự. (2009). Utility of fetal echocardiography in postnatal management of infants with prenatally diagnosed congenital heart disease. Prenat Diagn, 29(7), 654–658. Google Scholar
[4]
Bùi Hải Nam (2023), Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh trong dị tật tim bẩm sinh thường gặp, Luận án tiến sỹ y Học, Trường Đại học y Hà Nội, Hà Nội. Google Scholar
[5]
Satomi G. (2015). Guidelines for fetal echocardiography. Pediatr Int, 57(1), 1–21. Google Scholar
[6]
Phan Quang Anh (2010), Nghiên cứu về di tật tim bẩm sinh thai nhi được chẩn đoán bằng siêu âm tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học y Hà Nội, Hà Nội. Google Scholar
[7]
Lê Kim Tuyến (2014), Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội. Google Scholar
[8]
Nguyễn Trí Dũng (2018). Sự tạo hệ tim mạch. Phôi thai Y học Langman bản dịch Tiếng Việt. Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. Google Scholar