Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

20. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ U NANG BUỒNG TRỨNG TRÊN PHỤ NỮ MANG THAI TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN

Nguyễn Hữu Hoài1,2, Trần Thị Phương1,2, Tạ Hữu Hoàng1,2
1 Nghe An Obstetric and Pediatric Hospital
2 Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
Tác giả liên hệ: huuhoaihmu0915@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2284
21 Lượt xem
21 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị u nang buồng trứng trên phụ nữ mang thai bằng phương pháp phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 69 bệnh nhân mang thai bị u buồng trứng được phẫu thuật nội soi từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2024.

Kết quả: 100% bệnh nhân được phẫu thuật nội soi thành công. Không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 27,9 ± 4,8 tuổi. Tuổi thai hay gặp nhất là 13-18 tuần, thấp nhất là 7 tuần và cao nhất là 28 tuần. 97,1% thai phụ được bảo tồn buồng trứng. Khối u buồng trứng xoắn tập trung chủ yếu ở tuổi thai dưới 12 tuần (82,3%). Tất cả các trường hợp đều không có biến chứng lưu sẩy thai sau phẫu thuật.

Kết luận: Phẫu thuật nội soi là phương pháp hiệu quả và an toàn để điều trị u buồng trứng ở phụ nữ mang thai, thường được chỉ định giai đoạn thai kỳ từ 13-18 tuần. Tuy nhiên với những tiến bộ của phẫu thuật nội soi hiện tại, chỉ định phẫu thuật đã rộng rãi rãi hơn, có thể thực hiện khi bệnh nhân mang thai rất nhỏ như 7 tuần nếu bị xoắn mà không gây ảnh hưởng đến thai, cũng có thể thực hiện được khi thai đã lớn, cụ thể đến 28 tuần như trong nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo
[1]
Dương Thị Cương và Nguyễn Đức Hinh (2004). Khối u buồng trứng. Phụ khoa dành cho thầy thuốc thực hành, Nhà xuất bản Y học, 219–234. Google Scholar
[2]
Bộ môn sản trường Đại học Y Hà Nội (2012). Các khối u buồng trứng. Bài giảng Sản Phụ khoa, 4, Nhà xuất bản Y học, 299–310. Google Scholar
[3]
Vương Tiến Hòa (2005). Các khối u sinh dục và thai nghén. Sản khoa và sơ sinh, Nhà xuất bản Y học, 357–373. Google Scholar
[4]
Medeiros L.R.F., Rosa D.D., Bozzetti M.C. và cộng sự. (2009). Laparoscopy versus laparotomy for benign ovarian tumour. Cochrane Database Syst Rev, (2), CD004751. Google Scholar
[5]
Am C., Fr N., J E. và cộng sự. (2023). Adnexal masses during pregnancy: diagnosis, treatment, and prognosis. American journal of obstetrics and gynecology, 228(6). Google Scholar
[6]
Li Y.-C., Ku F.-C., Kuo H.-H. và cộng sự. (2017). Transvaginal endoscopic surgery-assisted versus conventional laparoscopic adnexectomy (TVEA vs. CLA): A propensity-matched study and literature review. Taiwan J Obstet Gynecol, 56(3), 336–341. Google Scholar
[7]
Le T.M. (2020). Laparoscopic management of ovarian masses in the second trimester of pregnancy. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol, 245, 58–63. Google Scholar