Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

12. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY TRÊN LỒI CẦU XƯƠNG CÁNH TAY Ở TRẺ EM BẰNG PHƯƠNG PHÁP NẮN KÍN VÀ XUYÊN ĐINH QUA DA DƯỚI MÀN TĂNG SÁNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN

Thái Văn Bình1,2, Nguyễn Văn Thưởng1,2, Nguyễn Thị Hoài Thu1,2
1 Nghe An Obstetric and Pediatric Hospital
2 Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
Tác giả liên hệ: xdrthuong@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2274
18 Lượt xem
20 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín TLC xương cánh tay ở trẻ em bằng phương pháp nắn kín xuyên đinh qua da dưới màn tăng sáng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả  62 bệnh nhân có gãy kín TLC xương cánh tay ở trẻ em độ III theo Gartland và điều trị bằng phương pháp nắn kín xuyên đinh qua da dưới màn tăng sáng tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 01/2022 đến 06/2023.

Kết quả: Tuổi trung bình: 7,21±2,18 (4-15), chủ yếu 7-10 tuổi (54,84%). Tỷ lệ nữ/nam: 1,95/1, tất cả bệnh nhân đều được phẫu thuật nắn kín, không trường hợp nào phải phẫu thuật mở nắn chỉnh. Di lệch thứ phát sau xuyên Kirschner có 2 trường hợp. Có 1 ca liệt trụ sau xuyên đinh chéo và phục hồi hoàn toàn sau 2 tháng theo dõi. Kết quả lâm sàng tốt có 45 bệnh nhân, khá 10 bệnh nhân (88,71% tốt và khá), 6 trường hợp kết quả trung bình và 1 bệnh nhân kết quả xấu.

Kết luận: Kỹ thuật này rất hiệu quả và là lựa chọn an toàn trong điều trị gãy trên lồi cầu xương cánh tay độ III ở trẻ em. Phương pháp này mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho bệnh nhân: Không bị mổ mở, không mất máu, xương gãy được nắn về đúng vị trí giải phẫu.

Tài liệu tham khảo
[1]
Trần Trung Dũng, (2017). Gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em. Chẩn đoán & Điều trị Gãy xương trật khớp chi trên, tr. 140-154. Google Scholar
[2]
Lê Tất Thắng, (2010). Đánh giá kết quả bước đầu điều trị gãy trên hai lồi cầu xương cánh tay trẻ em bằng xuyên kim qua da lối ngoài dưới màn tăng sáng. Y học thành phố Hồ Chí Minh, 14 (1), tr. 279-304. Google Scholar
[3]
Nguyễn Quang Tiến, Phạm Hoàng Lai, (2016). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, X quang và đánh giá kết quả điều trị gãy trên lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em bằng phương pháp nắn kín - xuyên kim qua da dưới màn tăng sáng,. Luận án chuyên khoa II, Đại học Y Dược Cần Thơ. Google Scholar
[4]
Muccioli C, ElBatti S, Oborocianu I, Rosello O, et al, (2017). Outcomes of Gartland type III supracondylar fractures treated using Blount's method. Orthop Traumatol Surg Res, 103 (7), pp. 1121-1125. Google Scholar
[5]
Gopinathan N R, Sajid M, Sudesh P, et al, (2018). Outcome Analysis of Lateral Pinning for Displaced Supracondylar Fractures in Children Using Three Kirschner Wires in Parallel and Divergent Configuration. Indian J Orthop, 52 (5), pp. 554-560. Google Scholar
[6]
Khademolhosseini M, Abd Rashid A H, Ibrahim S, (2013). Nerve injuries in supracondylar fractures of the humerus in children: is nerve exploration indicated? J Pediatr Orthop B, 22 (2), pp. 123. Google Scholar
[7]
Schroeder N O, Seeley M A, Hariharan A, et al, (2017). Utility of Postoperative Antibiotics After Percutaneous Pinning of Pediatric Supracondylar Humerus Fractures. J Pediatr Orthop, 37 (6), pp. 363-367. Google Scholar
[8]
Soh, R. C., Tawng, D. K., Mahadev, A. (2013). Pulse oximetry for the diagnosis and prediction for surgical exploration in the pulseless perfused hand as a result of supracondylar fractures of the distal humerus. Clin Orthop Surg, 5(1), pp.74-81. Google Scholar
[9]
Skaggs, D. L., Flynn, (2010). Supracondylar Fracture of the Distal Humerus. Rockwood and Wilkins Fractures in Children ,7th Edition Section Two - Upper Extremity, 14 pp. 448-490. Google Scholar