Mục tiêu: Vai trò của chẩn đoán tiền sản trong dị tật hệ niệu có túi sa niệu quản ở thận niệu quản đôi tại Bệnh viện Nhi đồng 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: hồi cứu trong 10 năm từ tháng 05 năm 2003 đến tháng 05 năm 2013 tất cả những trường hợp túi sa niệu quản trong hệ thống thận đôi được điều trị tại khoa Niệu bệnh viện Nhi đồng 2.
Kết quả: có 58 bệnh nhân với 60 túi sa niệu quản trên hệ thống thận đôi được khám và điều trị trong thời gian từ tháng 05 năm 2003 đến tháng 05 năm 2013. Trong đó có 45 bệnh nhân nữ và 13 nam, 20 túi sa trong bàng quang và 40 túi sa lạc chỗ. Nhóm có chẩn đoán tiền sản(CĐTS) có nguy cơ nhiễm trùng tiểu trước và sau phẫu thuật thấp hơn so với nhóm không có chẩn đoán tiền sản(KCĐTS).
Tỉ lệ phẫu thuật lại sau phẫu thuật ban đầu xẻ túi sa niệu quản là 55% ở nhóm CĐTS và 75% ở nhóm KCĐTS.
Kết luận: Chẩn đoán tiền sản giúp làm giảm tần suất nhiễm trùng tiểu trước và sau phẫu thuật, giảm tỉ lệ phải phẫu thuật lại ở những trẻ có túi sa niệu quản trên hệ thống thận niệu quản đôi.
Phẫu thuật cắt túi sa niệu quản trong giai đoạn sơ sinh hầu như trở thành phẫu thuật triệt để đối với nhóm túi sa trong bàng quang ở những trẻ có chẩn đoán trước sanh.