Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

5. SO SÁNH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THUỐC TÊ LIÊN TỤC VỚI TIÊM NGẮT QUÃNG TỰ ĐỘNG CÁC LIỀU NHỎ (PIEB) KHI GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG TRONG CHUYỂN DẠ

Trần Minh Long1,2, Bùi Hữu Hùng1,2, Nguyễn Quỳnh Trang1,2
1 Nghe An Maternity - Pediatric Hospital
2 Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
Tác giả liên hệ: longdr115@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2260
23 Lượt xem
16 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của phương pháp truyền thuốc tê liên tục và tiêm ngắt quãng tự động các liều nhỏ thuốc tê khi gây tê ngoài màng cứng (NMC).

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh. Trên 100 BN phân bổ ngẫu nhiên 2 nhóm bằng nhau. BN gây tê NMC tại L3-4. Sau liều test 8 ml Ropivacain 0,1% với fentanyl 1µg/ml (chia 2 lần/ 5 phút). Nhóm P (PIEB) 8ml tiêm vào khoang NMC mỗi lần (Lockout 60 phút). Nhóm C (CEI) chạy liên tục 8ml/60 phút. Nếu điểm VAS ≥ 4 thì SP bấm PCA thêm 6 ml thuốc tê. Nếu BN VAS ≥ 4 thì cho liều cứu 6ml Lidocain 1%. Liều bolus ở nhóm P: 15 phút sau liều bolus của bơm tiêm điện (VAS ≥ 4). Liều bolus ở nhóm C: liều khi truyền liên tục mà VAS ≥ 4. Các tiêu chí đánh: Thời gian khởi tê, điểm đau VAS, liều cứu, lidocain (mg), ropivacain (mg) và fentanyl (µg), hài lòng sản phụ.

Kết quả: Điểm VAS thời điểm CTC mở hết, giai đoạn rặn đẻ, VAS ở khâu tầng sinh môn và kiểm soát tử cung nhóm P thấp hơn nhóm C, thêm 1 liều cứu của nhóm P là 12% thấp hơn so với nhóm C 28%, Lidocain nhóm P (113,4 ± 33,6 mg) thấp hơn nhóm C (128 ± 45,3 mg), Ropivacain nhóm P (47,8 ± 10,8 mg) thấp hơn nhóm C (54,5±11,4 mg), sự hài lòng của sản phụ nhóm P (96%) cao hơn so với nhóm C (84%) với p< 0,05.

Kết luận: Điểm VAS nhóm P thấp hơn nhóm C, liều cứu, lượng thuốc tê của nhóm P thấp hơn so với nhóm C. Sự hài lòng của sản phụ nhóm P rất hài lòng cao hơn có ý nghĩa so với nhóm C, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Tài liệu tham khảo
[1]
Lim Y, Chakravarty S, Ocampo CE, Sia AT. Comparison of automated intermittent low volume bolus with continuous infusion for labour epidural analgesia. Anaesth Intensive Care. 2010;38(5):894-899. doi:10.1177/0310057X1003800514 Google Scholar
[2]
Munro A, George RB. Programmed Intermittent Epidural Boluses (PIEB): A Superior Technique for Maitenance of Labor Analgesia. Turk J Anaesthesiol Reanim. 2017;45(2):67-69. doi:10.5152/TJAR.2017.09032 Google Scholar
[3]
Wang X xue, Zhang X lan, Zhang Z xia, et al. Programmed intermittent epidural bolus in parturients. Medicine (Baltimore). 2022;101(5):e28742. doi:10.1097/MD.0000000000028742 Google Scholar
[4]
Atienzar MC, Palanca JM, Borras R, Esteve I, Fernandez M, Miranda A. Ropivacaine 0.1% with fentanyl 2 microg mL(-1) by epidural infusion for labour analgesia. Eur J Anaesthesiol. 2004;21(10):770-775. doi:10.1017/s0265021504000031 Google Scholar
[5]
Chora I, Hussain A. Comparison of 0.1% Ropivacaine-Fentanyl with 0.1% Bupivacaine-Fentanyl Epidurally for Labour Analgesia. Advances in Anesthesiology. 2014;2014:e237034. doi:10.1155/2014/237034 Google Scholar
[6]
Haidl F, Arne Rosseland L, Rørvik AM, Dahl V. Programmed intermittent boluses vs continuous epidural infusion in labor using an adrenaline containing solution: A randomized trial. Acta Anaesthesiol Scand. 2020;64(10):1505-1512. doi:10.1111/aas.13689 Google Scholar
[7]
George RB, Allen TK, Habib AS. Intermittent epidural bolus compared with continuous epidural infusions for labor analgesia: a systematic review and meta-analysis. Anesth Analg. 2013;116(1):133-144. doi:10.1213/ANE.0b013e3182713b26 Google Scholar
[8]
Đỗ Văn Lợi. Nghiên Cứu Hiệu Quả Giảm Đau Trong Chuyển Dạ Của Phương Pháp Gây Tê Ngoài Màng Cứng Do và Không Do Bệnh Nhân Tự Điều Khiển. Luận án Tiến sĩ Y học. Đại học Y Hà Nội; 2017. Google Scholar