Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ6-HNKH Bệnh viện Sản nhi Nghệ An 31/05/2025

2. ĐÁNH GIÁ ỨNG DỤNG THANG ĐIỂM PSOFA VÀ THANG ĐIỂM PRISM TRONG TIÊN LƯỢNG TỬ VONG Ở BỆNH NHÂN NẶNG NHẬP KHOA CẤP CỨU

Trần Văn Cương1,2, Nguyễn Đức Dũng1,2
1 Nghe An Maternity - Pediatric Hospital
2 Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
Tác giả liên hệ: tranvancuongdrped@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD6.2257
18 Lượt xem
13 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá ứng dụng thang điểm pSOFA và thang điểm PRISM; so sánh giá trị của thang điểm pSOFA và thang điểm PRISM trong tiên đoán tử vong ở bệnh nhân nặng.

Đối tượng - phương pháp: Tất cả các bệnh nhân nhập khoa Cấp cứu – Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An có tình trạng bệnh nặng hoặc đe doạ tới tính mạng từ tháng 3/2024 đến tháng 9/2024. Thang điểm pSOFA, PRISM được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong ROC (AUROC).

Kết quả: Điểm pSOFA và PRISM ở nhóm BN tử vong lần lượt là 13,65 ± 2,519 và 15,45 ± 5,443, cao hơn đáng kể so với nhóm BN sống. AUROC của pSOFA trong tiên đoán tử vong là 0,975 (KTC 95%: 0,954 – 0,995) với độ nhạy 99% và độ đặc hiệu 89,4%. AUROC của PRISM là 96,3% (KTC 95%: 0,932 – 0,993) với độ nhạy 95% và độ đặc hiệu 87,4%.

Kết luận: Tỷ lệ tử vong tỷ lệ thuận với điểm pSOFA và PRISM; thang điểm pSOFA và thang điểm PRISM đều có khả năng phân tách tốt nhóm BN sống và nhóm BN tử vong, thang điểm pSOFA có giá trị cao hơn trong tiên đoán tử vong ở bệnh nhi nặng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Đậu Việt Hùng (2007), Giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm PRISM đối với bệnh nhân nhập khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương từ 2006-2007, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[2]
Nguyễn Ngọc Rạng và cộng sự. So sánh thang điểm pSOFA, SOFA và PRISM III trong tiên đoán tử vong trẻ em bị sốc nhiễm khuẩn tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ từ thàng 4/2018 đến tháng 6/2019. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2019; 20:16-22. Google Scholar
[3]
UNICEF (2020). Child survival under five mortality, UNICEF. Google Scholar
[4]
UNICEF, WHO, World Bank Group and United Nations (2018). Levels & Trends in Child Mortality Report 2018. Estimates developed by the UN Inter- agency Group for Child Mortali-ty Estimation, UNICEF. Google Scholar
[5]
Nguyễn Công Khanh và cộng sự (2016). Dịch tễ học và dự phòng nhi khoa. Sách giáo khoa Nhi Khoa, Nhà xuất bản Y học. Google Scholar
[6]
Toltzis P, Soto-Campos G, Shelton CR, Kuhn EM, Hahn R, Kanter RK, et al. Evidence-based pediatric outcome predictors to guide the allocation of critical care resources in a mass casual-ty event. Pediatr Crit Care Med. (2015) 16:e207–16. doi: 10.1097/PCC.0000000000000481 Google Scholar
[7]
Nguyễn Thị Kim Nhi (2021). Đánh giá tiên lượng tử vong ở trẻ sơ sinh tại khoa Hồi sức sơ sinh, Luận văn tiến sĩ, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Google Scholar
[8]
Ramazani J, Hosseini M. Comparison of the predictive ability of the pediatric risk of mortality iii, pediatric index of mortality3, and pediatric logistic organ dysfunction-2 in medical and surgical intensive care units. J Compr Pediatr. (2019) 10:e82830. doi: 10.5812/compreped.82830 Google Scholar
[9]
Tyagi P, Tullu MS, Agrawal M. Comparison of pediatric risk of mortality iii, pediatric index of mortality 2, and pediatric index of mortality 3 in predicting mortality in a pediatric inten-sive care unit. J Pediatr Intensive Care. (2018) 7:201–6. doi: 10.1055/s-0038-1673671 Google Scholar
[10]
Shann F, Pearson G, Slater A, Wilkinson K. Paediatric index of mortality (PIM): a mortality prediction model for children in intensive care. Intensive Care Med. (1997) 23:201–7. doi: 10.1007/s001340050317 Google Scholar