Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ2-NCKH 24/03/2025

49. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THỞ MÁY XÂM NHẬP Ở TRẺ SƠ SINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI BỆNH LÝ MẸ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Phạm Văn Hưng1,2, Nguyễn Thị Bích Hồng3,4, Nguyễn Thành Nam1,2, Nguyễn Ngọc Thái5,6, Phạm Văn Đếm1,2,7,8
1 Bach Mai Hospital
2 Bệnh viện Bạch Mai
3 Bac Giang city Medical Center
4 Trung tâm Y tế thành phố Bắc Giang
5 Phu Tho Viet Duc General Hospital
6 Bệnh viện Đa khoa Việt Đức Phú Thọ
7 VNU, University of Medicine and Pharmacy
8 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả liên hệ: phamdemhd@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCĐ2.2244
14 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị thở máy ở trẻ sơ sinh điều trị tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, xác định một số yếu tố liên quan từ bệnh lý của mẹ.

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, nghiên cứu trên 51 trẻ sơ sinh điều trị thở máy xâm nhập tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6/2019 đến tháng 4/2020.

Kết quả: Sơ sinh phải điều trị thở máy xâm nhập chiếm 15,1% trong tổng số sơ sinh bị suy hô hấp, trong đó tỉ lệ trẻ trai/trẻ gái là 2/1. Trẻ thở máy ở nhóm mẹ có bệnh lý (68,6%) cao hơn hẳn trẻ ở nhóm mẹ không có bệnh lý (31,4%) với p < 0,05. Tỉ lệ trẻ sơ sinh cực kỳ non tháng, rất non tháng, non tháng và đủ tháng phải thở máy lần lượt là 15,7%; 47,1%; 29,4% và 7,8%. Cân nặng trung bình của trẻ nhóm mẹ có bệnh (1510 ± 710g) thấp hơn trẻ nhóm mẹ không có bệnh (1880 ± 1040g). Thời gian thở máy xâm nhập trung bình của trẻ nhóm mẹ có bệnh (8,5 ± 7,6 ngày) cao hơn nhóm mẹ không có bệnh (4,06 ± 3,3 ngày). Trẻ sinh ra từ mẹ không có bệnh có tỉ lệ điều trị thành công (93,8%) cao hơn so với trẻ sinh ra từ mẹ có bệnh (88,6%). Tỉ lệ điều trị thất bại (tử vong) là 9,8%.

Kết luận: Trẻ sinh ra từ mẹ có bệnh có thời gian thở máy xâm nhập trung bình cao hơn và tỉ lệ thành công thấp hơn so với nhóm trẻ có mẹ không có bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
UNICEF/WHO, Child mortality and cause of death - Infants mortality, Global Health Observatory data, 2017. Google Scholar
[2]
Nguyễn Thành Nam, Nghiên cứu nguyên nhân, yếu tố nguy cơ và kết quả điều trị suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, Tạp chí Y học Quân sự, 2017, số 325, tr. 55-62. Google Scholar
[3]
Nguyễn Thành Nam, Nghiên cứu thực trạng và mô hình bệnh tật đơn nguyên sơ sinh, Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở Bệnh viện Bạch Mai, 2018. Google Scholar
[4]
Gomella T.C et al, Fetal and Neonatal Medicine, Nelson Essential of Pediatric, 2016, pp. 179-249. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thị Hoàng Yến, Nhận xét kết quả thở máy ở trẻ sơ sinh trong điều trị suy hô hấp tại Bệnh viện Nhi Trung ương có chỉ định thở máy ở trẻ sơ sinh, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội, 2010. Google Scholar
[6]
Vũ Thị Thu Nga, Nguyên nhân thở máy ở trẻ sơ sinh và một số yếu tố liên quan đến kết quả thở máy tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Kỷ yếu Hội thảo khoa học sơ sinh lần thứ VI, 2018, tr. 281-305. Google Scholar
[7]
Qazi Iqbal et al, Neonatal mechhanical ventilation: Indications and outccome, Indian Journal of Critical Care Medicine, 2015, pp. 523-527. Google Scholar
[8]
Nidhi Setal, Neonatal Mechanical Ventilation: Indication and Outcome, Medical Sciense5 (6), 2016, pp. 236-238. Google Scholar
[9]
Nayana Prabha, Profile and outcome of neonates requiring ventilation: The Kerala experience, Curr Pediatric Respiratory, 2014, pp. 57-62. Google Scholar
[10]
Lateef A, Petri M, Management of pregnancy in systemic lupus erythematosus, Nat. Rev. Rheumatol, 2012, 8: 710-718. Google Scholar
[11]
Pateinakis P, Pyrpasopoulou A, Pregnancy in systemic Lupus Erythematosus patients with nephritis, EMJ Neph, 2014, 1: 100-104. Google Scholar