Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị thở máy ở trẻ sơ sinh điều trị tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, xác định một số yếu tố liên quan từ bệnh lý của mẹ.
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, nghiên cứu trên 51 trẻ sơ sinh điều trị thở máy xâm nhập tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6/2019 đến tháng 4/2020.
Kết quả: Sơ sinh phải điều trị thở máy xâm nhập chiếm 15,1% trong tổng số sơ sinh bị suy hô hấp, trong đó tỉ lệ trẻ trai/trẻ gái là 2/1. Trẻ thở máy ở nhóm mẹ có bệnh lý (68,6%) cao hơn hẳn trẻ ở nhóm mẹ không có bệnh lý (31,4%) với p < 0,05. Tỉ lệ trẻ sơ sinh cực kỳ non tháng, rất non tháng, non tháng và đủ tháng phải thở máy lần lượt là 15,7%; 47,1%; 29,4% và 7,8%. Cân nặng trung bình của trẻ nhóm mẹ có bệnh (1510 ± 710g) thấp hơn trẻ nhóm mẹ không có bệnh (1880 ± 1040g). Thời gian thở máy xâm nhập trung bình của trẻ nhóm mẹ có bệnh (8,5 ± 7,6 ngày) cao hơn nhóm mẹ không có bệnh (4,06 ± 3,3 ngày). Trẻ sinh ra từ mẹ không có bệnh có tỉ lệ điều trị thành công (93,8%) cao hơn so với trẻ sinh ra từ mẹ có bệnh (88,6%). Tỉ lệ điều trị thất bại (tử vong) là 9,8%.
Kết luận: Trẻ sinh ra từ mẹ có bệnh có thời gian thở máy xâm nhập trung bình cao hơn và tỉ lệ thành công thấp hơn so với nhóm trẻ có mẹ không có bệnh.