Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm cận lâm sàng phụ nữ có thai được phẫu thuật nội soi u buồng trứng tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.
Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu mô tả cắt ngang trên 74 thai phụ chẩn đoán là u buồng trứng được can thiệp phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ 1/1/2019 đến 31/12/2023.
Kết quả: Tuổi trung bình của sản phụ chẩn đoán u buồng trứng trong nghiên là 27,1 ± 4,0, thường thấy ở các cán bộ công nhân viên. Bệnh nhân vào viện thường gặp nhất là đau vùng bụng dưới với 74,3%. Tuổi thai khi phát hiện gặp nhiều nhất ≤ 12 tuần tuổi với tỉ lệ nhiều nhất là 79,7% và có tới 67,6% thai phụ phải phẫu thuật khi thai ở lứa tuổi này. Hầu hết đối tượng nghiên cứu có u buồng trứng một bên (89,2%) theo chẩn đoán của nội soi. Tỉ lệ u buồng trứng có kích thước từ 10 cm trở xuống chiếm 56,8%, tỉ lệ u buồng trứng trên 10 cm chiếm 43,2%. Theo phân loại O-RADS chủ yếu là nhóm O-RADS2 chiếm 58,1%, sau đó là O-RADS3 với tỉ lệ bằng 35,1%. Hầu hết các trường hợp phát hiện xoắn khối u (70,3%) với tỉ lệ khối u xoắn 1 vòng, 2 vòng và 3 vòng lần lượt là 14,9%; 39,2% và 16,2%.
Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi 20-35 là nhóm gặp nhiều nhất. Trong những năm gần đây, phẫu thuật nội soi đã có những bước tiến đáng kể nhờ sự phát triển của trang thiết bị nội soi hiện đại và sự nâng cao kỹ năng của phẫu thuật viên. Những cải tiến này đã tạo điều kiện cho việc thực hiện phẫu thuật nội soi đối với các u buồng trứng kích thước lớn, thậm chí kèm theo có thai. Mặc dù phần lớn các u buồng trứng ở phụ nữ có thai trong nghiên cứu của chúng tôi có kích thước từ 10 cm trở xuống. Điều này cho thấy phẫu thuật nội soi có thể được áp dụng thành công đối với những trường hợp u buồng trứng lớn, nhưng cần chuẩn bị và tiến hành một cách cẩn thận, bảo đảm an toàn cho cả mẹ và thai nhi. Nhìn chung, với sự tiến bộ trong kỹ thuật phẫu thuật nội soi và trang thiết bị hiện đại, khả năng phẫu thuật các u buồng trứng lớn hơn đã tăng lên, mở ra nhiều cơ hội điều trị cho những trường hợp phức tạp hơn.