Mục tiêu: Khảo sát nồng độ AMH và xác định điểm đáp ứng với liệu pháp kích thích buồng trứng của nồng độ AMH trên bệnh nhân vô sinh, hiếm muộn.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 278 bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh đẻ (18-45 tuổi), được chẩn đoán là vô sinh (nguyên phát hoặc thứ phát) và được điều trị kích thích buồng trứng tại Khoa Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện A Thái Nguyên.
Kết quả: Nồng độ AMH trung bình trong nghiên cứu là 3,93 ± 2,88 (ng/mL), giá trị trung vị là 3,0 ng/mL, giá trị lớn nhất là 16,7 ng/ml và nhỏ nhất là 0,243 ng/mL. Nồng độ AMH trung bình và số lượng noãn dự trữ tỷ lệ nghịch với tuổi bệnh nhân, đặc biệt sau tuổi 35 chỉ còn 1/2 so với tuổi 19-24. Nồng độ AMH tương quan thuận mức độ vừa với số lượng noãn thu được sau kích thích buồng trứng. Khi nồng độ AMH ≤ 1,1 ng/mL cho thấy bệnh nhân đáp ứng kém hoặc hầu như không đáp ứng với kích thích buồng trứng. Với nồng độ AMH = 1,2 ng/mL, bệnh nhân đáp ứng thấp với kích thích buồng trứng, nồng độ AMH từ 3,1-4,4 ng/mL bệnh nhân đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng, nồng độ AMH ≥ 4,5 ng/mL là giá trị ngưỡng đáp ứng quá mức với kích thích buồng trứng.
Kết luận: Nồng độ AMH giảm khi tuổi cao, tương quan thuận với số noãn thu được sau kích thích buồng trứng. Ngưỡng AMH đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng là 4,5 ng/mL trở lên.