Bài báo khoa học Tập 66 Số 2 04/03/2025

3. KIẾN THỨC PHÒNG NGỪA LOÃNG XƯƠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN GIẢM MẬT ĐỘ XƯƠNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH TỪ 45 TUỔI TRỞ LÊN TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2023

Đặng Ngọc Hùng1,2, Nguyễn Đỗ Huy3,4, Trần Quốc Cường5,6, Lê Thị Thu Huyền7,8, Vi Thị Tươi1,2, Đinh Thị Thu Hằng9,10, Trần Thị Minh Nguyệt9,10, Nguyễn Nguyên Ngọc11,12
1 Nutrition Research and Consulting Institute NRECI
2 Viện Nghiên cứu và Tư vấn dinh dưỡng NRECI
3 Vietnam National University, Hanoi
4 Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Pham Ngoc Thach University of Medicine
6 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
7 Institute of Community Medicine Research and Training MRIT
8 Viện Nghiên cứu và Đào tạo Y học cộng đồng MRIT
9 National Institute of Nutrition
10 Viện Dinh dưỡng Quốc gia
11 Save the Children International in Vietnam
12 Văn phòng đại diện Tổ chức Save the Children International tại Việt Nam
Tác giả liên hệ: danghungyhdp@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66i2.2037
39 Lượt xem
41 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ phụ nữ mãn kinh ≥ 45 tuổi ở tỉnh Lâm Đồng năm 2023 có kiến thức đúng về phòng ngừa loãng xương và mối liên quan đến giảm mật độ xương.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 681 phụ nữ mãn kinh ≥ 45 tuổi ở tỉnh Lâm Đồng năm 2023. Dữ liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi soạn sẵn.

Kết quả: Tỷ lệ phụ nữ mãn kinh ≥ 45 tuổi tại tỉnh Lâm Đồng năm 2023 có kiến thức chung đúng về dự phòng loãng xương đạt 10,1%. Tỷ lệ giảm mật độ xương trong nghiên cứu là 83,4%. Những người có kiến thức chung chưa đúng về dự phòng loãng xương có tỷ lệ giảm mật độ xương cao gấp 3,38 lần (95%CI: 1,97-5,81) so với những người có kiến thức chung đúng về dự phòng loãng xương.

Kết luận: Các nghiên cứu nhằm xác định rõ hơn mối liên quan giữa kiến thức dự phòng loãng xương và giảm mật độ xương cần được tiến hành. Điều này sẽ giúp phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả, từ đó giảm tỷ lệ mắc bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người trong nhóm nguy cơ cao.

Tài liệu tham khảo
[1]
Kanis J.A, Cooper C, Rizzoli R, Reginster J.Y, Scientific Advisory Board of the European Society for Clinical and Economic Aspects of Osteoporosis (ESCEO) and the Committees of Scientific Advisors and National Societies of the International Osteoporosis Foundation (IOF), European guidance for the diagnosis and management of osteoporosis in postmenopausal women, Osteoporos Int, 2019, 30 (1), pp. 3-44. Google Scholar
[2]
Šupínová M, Janiczeková E, Jankovičová J, Lauková J, Determinants of postmenopausal osteoporosis, Journal of Nursing and Social Sciences Related to health and illness, 2021, pp. 73-8 Google Scholar
[3]
Tabor E, Grodzki A, Pluskiewicz W, Higher education and better knowledge of osteoporosis improve bone health in Polish postmenopausal women, Endokrynol Pol, 2022, 73 (5), pp. 831-836. Google Scholar
[4]
Ho Pham L.T, Nguyen T.V, The Vietnam Osteoporosis Study: Rationale and design, Osteoporos Sarcopenia, 2017, 3 (2), pp. 90-7. Google Scholar
[5]
Winzenberg T.M, Oldenburg B, Frendin S, Jones G, The design of a valid and reliable questionnaire to measure osteoporosis knowledge in women: the Osteoporosis Knowledge Assessment Tool (OKAT), BMC Musculoskelet Disord, 2003, 4, pp. 17. Google Scholar
[6]
Hoàng Văn Dũng, Nghiên cứu mật độ xương, các yếu tố nguy cơ loãng xương, sự thay đổi một số dấu ấn chu chuyển xương ở phụ nữ sau mãn kinh được bổ sung sữa đậu nành có tăng cường vitamin D và canxi tại cộng đồng Hà Nội, Học viện Quân y, 2017. Google Scholar
[7]
Trần Văn Nhuận, Dương Thanh Tùng, Nguyễn Minh Ngọc, Nguyễn Quang Huy, Trần Thanh Thủy, Kiến thức về bệnh loãng xương của phụ nữ đến đo mật độ xương tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và một số yếu tố liên quan, Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2020, tr. 209-215. Google Scholar
[8]
Đinh Thị Thảo, Ngô Huy Hoàng, Kiến thức về bệnh loãng xương của người bệnh đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2024, Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2024, tập 07 (số 05), tr. 42-51. Google Scholar