Mở đầu: Tại Việt Nam sử dụng máy gia tốc cơ đo chỉ số TOF nhằm theo dõi giãn cơ vẫn chưa được thực hiện thường quy, việc rút ống nội khí quản chủ yếu dựa vào các đánh giá lâm sàng mang tính chủ quan.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 96 bệnh nhân phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, từ tháng 11/2020 đến tháng 05/2021.
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu bao gồm: (1) Xác định diễn tiến chỉ số TOF vào 7 thời điểm: ngay sau đến phòng hồi tỉnh, sau khi rút ống nội khí quản, 15 phút, 30 phút, 60 phút, 90 phút, 120 phút sau rút nội khí quản; (2) Xác định tỷ lệ tồn dư giãn cơ của bệnh nhân phẫu thuật cắt ruột thừa nội soi tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
Kết quả: Trung bình đạt chỉ số TOF ≥ 0,9 sau phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa ở thời điểm nhập hồi tỉnh là 88,11%, rút ống nội khí quản là 90,53% và đến thời điểm 120 phút sau rút ống nội khí quản là 99,88%. Tồn dư giãn cơ sau phẫu thuật khi chỉ số TOF < 0,9. Ở thời điểm nhập hồi tỉnh, tỷ lệ tồn dư giãn cơ cao nhất chiếm 58,33%, tiếp theo là thời điểm rút ống nội khí quản 39,58%, 15 phút sau rút ống là 21,88%. Cho đến 120 sau rút ống nội khí quản thì không còn tồn dư giãn cơ.
Kết luận: Qua kết quả nghiên cứu cho thấy cần theo dõi bệnh nhân phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa bằng các thiết bị định lượng đến đánh giá chính xác hơn về chỉ số tồn dư giãn cơ trên lâm sàng.