Bài báo khoa học Tập 65 Số CĐ11- HN Chấn thương Chỉnh hình-TPHCM 02/12/2024

7. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THAY KHỚP HÁNG BÁN PHẦN CÓ CEMENT ĐIỀU TRỊ GÃY VÙNG MẤU CHUYỂN PHÂN ĐỘ A2 THEO AO Ở BỆNH NHÂN ≥75 TUỔI LOÃNG XƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH NGHỆ AN TỪ THÁNG 1/2019 ĐẾN THÁNG 12/2023

Nam Nguyễn Hoài1,2, Duệ Nguyễn Song1,2, Luân Nguyễn Thành1,2, Mạnh Nguyễn Duy1,2
1 Nghe An Orthopedic Trauma Hospital
2 Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An
Tác giả liên hệ: thanhluan6196@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v65iCD11.1743
69 Lượt xem
25 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Gãy vùng mấu chuyển xương đùi (GVMCXĐ) là một chấn thương khá phổ biến, nhất là ở người cao. Thay khớp háng bán phần có xi măng giúp khả năng vận động trong giai đoạn sớm tốt hơn, chi phí rẻ hơn nhưng rủi ro phẫu thuật cao hơn nhóm không có xi măng. Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng bán phần có xi măng điều trị gãy vùng mấu chuyển xương đùi A2 theo AO ở bệnh nhân ≥ 75 tuổi, loãng xương.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả 437 bệnh nhân được chẩn đoán GVMCXĐ A2 theo AO, ≥ 75 tuổi, loãng xương được phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo bán phần có xi măng từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2023. Đánh giá chức năng khớp háng tại thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật bằng thang điểm Harris.

Kết quả: 437 bệnh nhân ( 126 nam, 311 nữ) với độ tuổi từ 75-103, trung bình 86,2 tuổi. Có 75,51% bệnh nhân có bệnh lí nền kèm theo ( tăng huyết áp chiểm tỷ lệ cao nhất với 58,58%). Thời gian phẫu thuật 54,5 phút, lượng máu truyền là 255ml, thời gian nằm viện trung bình là 15,9 ngày. Có 5 case trật khớp háng nhân tạo được nắn trật, không có case nào trật tái diễn. 11 case bị gãy quanh chuôi đều do trượt chân ngã trong quá trình đi lại được phẫu thuật kết hợp xương kết quả lành xương tốt sau 6 tháng. 4 bệnh nhân nhiễm trùng nông được phẫu thuật cắt lọc và điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ, 1 bệnh nhân nhân nhiễm trùng sau được phẫu thuật tháo khớp háng nhân tạo đặt cement spacer khi ổn đinh đã phẫu thuật thay khớp háng toàn phần, hiện tất cả các bệnh nhân đã ổn định. Không có case nào tử vong trong mổ, 2 case tử vong trong 14 ngày sau mổ nguyên nhân do thuyên tắc phổi. Tại thời điểm 6 tháng liên hệ được 412 bệnh nhân (23 bệnh nhân còn lại mất dấu do nhiều nguyên nhân), điểm số harris trung bình là 76,4 điểm ( nhóm trung bình có tỉ lệ cao nhất với 48,13%), tương đương với một số nghiên cứu trên thế giới.

Kết luận: Phẫu thuật thay khớp háng bán phần có cement là phương pháp điều trị khá an toàn và hiệu quả với chi phí thấp cho bệnh nhân ≥75 tuổi bị gãy vùng mấu chuyển xương đùi A2, loãng xương. Phương pháp này giúp bệnh nhân hồi phục chức năng vận động sớm hơn, giảm nguy cơ biến chứng và nhanh chóng trở lại cuộc sống hàng ngày.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Đức Phúc (2004). Chấn thương chỉnh hình. Nhà xuất bản Y học, 390 - 394. Google Scholar
[2]
Phí Mạnh Công (2009). Đánh giá kết quả điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi ở người trên 70 tuổi bằng kết hợp xương nẹp vis động tại bệnh viện Xanh Pôn và bệnh viện 198, Luận văn thạc sỹ y học chuyên ngành ngoại khoa, Đại học y Hà Nội. Google Scholar
[3]
Khan N, Askar Z và Ahmed I (2010). Intertrochanteric fracture of femur, outcome of dynamic hip screw in eldrly patients. Professional Med J Google Scholar
[4]
Jun, 17, 328 - 333. Google Scholar
[5]
Phạm Văn Cường (2017). Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng bán phần trong điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi ở người lớn tuổi, Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II, Đại học y Hà Nội. Google Scholar
[6]
Võ Thành Toàn (2016). Điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi ở bệnh nhân lớn tuổi bằng phẫu thuật thay khớp háng lưỡng cực chuôi dài Google Scholar
[7]
tại bệnh viện Thống Nhất. Hội nghị thường niên lần thứ XXII - Hội nghị chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh, 112 - 115. Google Scholar
[8]
Nguyễn Thanh Trường (2006). Đánh giá kết quả điều trị gãy kín liên mấu chuyển xương đùi ở người cao tuổi bằng kết hợp xương nẹp vis DHS Google Scholar
[9]
tại bệnh viện 103, Luận văn thạc sỹ Y học, Học viện Quân y. Google Scholar
[10]
Gui S. và Sun D. H. (2008). Cemented bipolar hemiarthochanteric with a novel cerclage technique for unstable intertrochanteric hip fractures Google Scholar
[11]
in senile patients. Chinese Journal of Traumatology, 11(1), 13 - 17. Google Scholar
[12]
Florian Geiger và Monique Z.S(2007). Trochanterric fractures in the elderly: The influence of primary hip arthroplasty on 1 year mortality. Arch orthop trauma surg, 127, 959 - 966. Google Scholar
[13]
Thakur. A. (2016) Cemented Hemiarthroplasty in Elderly Osteoporotic Unstable Trochanteric Fractures using Fracture Window. Malay orthop Google Scholar
[14]
Jour, 10(1), 5-10. Google Scholar