Bài báo khoa học Tập 65 Số CĐ10 - Bệnh viện Thống Nhất 30/10/2024

67. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM MÔ HÌNH PHỐI HỢP ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN LOÃNG XƯƠNG NẶNG NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT NĂM 2024

Hoàng Quốc Nam1,2, Võ Thành Liêm3,4
1 Thong Nhat Hospital
2 Bệnh viện Thống Nhất
3 Pham Ngoc Thach University of Medicine
4 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tác giả liên hệ: bsnamth@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v65iCD10.1656
16 Lượt xem
16 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bệnh nhân loãng xương nặng điều trị nội trú nằm tại nhiều khoa, có nhiều biến chứng, cần phát hiện sớm biến chứng, có biện pháp xử lý và điều trị kịp thời do vậy cần quy trình thống nhất và phối hợp nhiều khoa.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả hoạt động mô hình phối hợp điều trị nội trú loãng xương nặng; Phân tích tính phù hợp và khả năng duy trì hoạt động mô hình phối hợp điều trị loãng xương nặng tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2024

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp quy trình điều trị bệnh nhân loãng xương nặng tại 3 khoa lâm sàng trong 3 tháng. Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả: Thời gian nằm viện trước, sau can thiệp 7-14 ngày tăng lên (40,5%, 64,4%), trên 14 ngày giảm đi (40,5% và 24,4%). Tỷ lệ thực hiện hoạt động thăm khám “màu sắc da vùng tỳ đè”, “đau vùng tổn thương”, “khả năng vận động” trước sau can thiệp lần lượt là (16,7%, 51,1%, p=0,001; 38,1%, 71,1%, p=0,002; 76,2%, 100%, p=0,001). Chỉ định truyền thuốc chống huỷ xương, dự phòng huyết khối, vớ áp lực tăng có ý nghĩa thống kê sau can thiệp (52,4%, 77,8%, p=0,013; 40,5%, 77,8%, p<0,001; 2,4%, 31,1%, p<0,001). Hội chẩn chuyên khoa để truyền thuốc chống hủy xương (47,6%, 82,2%, p=0,001), tập vật lý trị liệu (16,7%, 62,2%, p<0,001).

Kết luận: Bước đầu triển khai mô hình phối hợp điều trị loãng xương nặng nội trú ghi nhận kết quả tích cực, phù hợp với tình hình thực tế và có khả năng tiếp tục duy trì triển khai mô hình tại các khoa lâm sàng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Snodgrass P, Zou A, Gruntmanis U, et al, and Referral Practice After Fragility Fractures. Curr Osteoporos Rep. 2022 Jun;20(3):163-169. doi: 10.1007/s11914-022-00730-1. Epub 2022 Apr 20. PMID: 35442009. Google Scholar
[2]
Åkesson KE, Ganda K, Deignan C, et al. Post-fracture care programs for prevention of subsequent fragility fractures: a literature assessment of current trends. Osteoporos Int. 2022 Aug;33(8):1659-1676. doi: 10.1007/s00198-022-06358-2. Epub 2022 Mar 24. Google Scholar
[3]
Gehlbach S, Saag KG, Adachi JD, et al (2012) Previous fractures at multiple sites increase the risk for subsequent fractures: the global longitudinal study of osteoporosis in women. J Bone Miner Res 27(3):645–653. https://doi.org/10.1002/jbmr.1476 Google Scholar
[4]
Flikweert, E.R., Wendt, et al. Complications after hip fracture surgery: are they preventable. Eur J Trauma Emerg Surg 44, 573–580 (2018). https://doi.org/10.1007/s00068-017-0826-2 Google Scholar
[5]
Sachdeva A, Dalton M, Lees T. Graduated compression stockings for prevention of deep vein thrombosis. Cochrane Database Syst Rev. 2018 Nov 3;11(11):CD001484. doi: Google Scholar
[6]
1002/14651858.CD001484.pub4. Google Scholar
[7]
Rui Y, Qiu X, Zou J, et al. [Clinical application of multidisciplinary team co-management in geriatric hip fractures]. Zhongguo Xiu Fu Chong Jian Wai Ke Za Zhi. 2019 Oct 15;33(10):1276-1282. Chinese. doi: 10.7507/1002-1892.201905017. Google Scholar