Bài báo khoa học Tập 65 Số CĐ 8 - Trường ĐH Nguyễn Tất Thành 09/09/2024

32. KẾT QUẢ QUẢN LÝ CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI SAU PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TẠI BỆNH VIỆN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

Vũ Trí Thanh1,2, Nguyễn Kim Anh1,2, Hồ Tất Bằng3,4,5,6, Lâm Thảo Cường3,4,5,6, Trần Thị Anh Thư7,8, Phạm Xuân Vinh1,2, Nguyễn Ngọc Tín1,2, Trần Thanh Vỹ3,4,5,6
1 Thu Duc City Hospital
2 Bệnh viện Thành phố Thủ Đức
3 University Medical Center Ho Chi Minh City
4 University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
5 Bệnh viện Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh
6 Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh
7 Binh Thanh District Health Center
8 Trung tâm y tế Quận Bình Thạnh
Tác giả liên hệ: Bs.nkanh.bvtd@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v65iCD8.1486
26 Lượt xem
6 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát thực trạng quản lý chăm sóc và phục hồi sau phẫu thuật ung thư phổi tại Bệnh viện Thành phố Thủ Đức.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ và đã phẫu thuật cắt thùy phổi từ năm 2015 đến tháng 12/2023. Các biến số kết cục chính bao gồm thời gian nằm viện sau phẫu thuật, các biến chứng sau phẫu thuật và tỷ lệ tái nhập viện trong vòng 30 ngày.

Kết quả: Tổng cộng có 51 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, đa số là nam giới (66,7%) và dưới 60 tuổi (62,7%). Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật là 9,5 ± 5,3 ngày, với trung vị là 8 ngày. Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật là 2%, và tỷ lệ tái nhập viện trong vòng 30 ngày là 3,9%.

Kết luận: Nghiên cứu cung cấp thực trạng quản lý chăm sóc và phục hồi sau phẫu thuật ung thư phổi tại Bệnh viện Thành phố Thủ Đức. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật kéo dài chỉ ra sự cần thiết phải triển khai chương trình hồi phục sớm nhằm rút ngắn thời gian nằm viện và nâng cao chất lượng điều trị ung thư phổi. Quản lý bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai và giám sát chương trình ERAS một cách hiệu quả.

Tài liệu tham khảo
[1]
Sung, H., et al., Global Cancer Statistics 2020: GLOBOCAN Estimates of Incidence and Mortality Worldwide for 36 Cancers in 185 Countries. CA: A Cancer Journal for Clinicians, 2021. 71(3): P. 209-249. Google Scholar
[2]
, T., et al., Cancers in Vietnam-Burden and Control Efforts: A Narrative Scoping Review. Cancer control: journal of the Moffitt Cancer Center, 2019. 26(1): P. 1073274819863802-1073274819863802. Google Scholar
[3]
Loughlin, S.M., et al., The History of ERAS (Enhanced Recovery After Surgery) Society and its development in Latin America. Revista do Colégio Brasileiro de Cirurgiões, 2020. 47. Google Scholar
[4]
Luan, T.M.B., et al., Long-term outcomes of video-assisted lobectomy in non-small cell lung cancer. Asian Cardiovascular and Thoracic Annals, 2021. 29(4): P. 318-326. Google Scholar
[5]
Vũ Ngọc, T., G. Nguyễn Duy, and T. Nguyễn Duy, Kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam, 2023. 41: P. 82-92. Google Scholar
[6]
Tat Bang, H., T. Thanh Vy, and N.V. Tap, Length of Postoperative Hospital Stay and Related Factors After Lobectomy for Lung Cancer: A Google Scholar
[7]
Pre-enhanced Recovery After Surgery (ERAS) Single Center Assessment. Cureus, 2024. 16(2): P. e54724. Google Scholar
[8]
Batıhan, G., K.C. Ceylan, and Ş.Ö. Kaya, Video-assisted thoracic surgery is associated with faster delivery to adjuvant chemotherapy after lung resection in patients with lung cancer. The Cardiothoracic Surgeon, 2023. 31(1): P. 10. Google Scholar
[9]
Ljungqvist, O. and M. Hubner, Enhanced recovery after surgery—ERAS—principles, practice and feasibility in the elderly. Aging Clinical and Experimental Research, 2018. 30(3): P. 249-252. Google Scholar
[10]
Tat Bang, H., et al., Efficacy of Enhanced Recovery After Surgery Program for Patients Undergoing Lobectomy for Lung Cancer: A Scoping Review and Single-Center Initial Result in Vietnam. Cureus, 2023. 15(8): P. e44084. Google Scholar