Bài báo khoa học Tập 65 Số CĐ 7 - NCKH 24/07/2024

24. NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HẸP ĐỘNG MẠCH CẢNH ĐOẠN NGOÀI SỌ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP QUA ĐƯỜNG ỐNG THÔNG Ở BỆNH NHÂN TRÊN 60 TUỔI

Lê Tùng Lam1,2, Phạm Mạnh Hùng3,4
1 Huu Nghi Hospital
2 Bệnh viện Hữu Nghị
3 Vietnam National Heart Institute
4 Viện Tim mạch Việt Nam
Tác giả liên hệ: letunglamhnvn74@yahoo.com.vn
DOI: 10.52163/yhc.v65iCD7.1318
20 Lượt xem
6 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Giới thiệu: Với những tiến bộ của các thiết bị can thiệp, nhất là việc ra đời thiết bị bảo vệ đoạn xa, điều trị tái thông bệnh lý xơ vữa động mạch cảnh để ngăn ngừa đột quỵ thiếu máu não bằng can thiệp nong bóng, đặt stent động mạch cảnh là phương pháp hiệu quả, đưa đến thủ thuật nhẹ nhàng, an toàn, nhất là đối với bệnh nhân cao tuổi (> 60 tuổi).

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp can thiệp.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp không có nhóm chứng, theo dõi dọc.

Kết quả: Tuổi bệnh nhân trung bình 75,3 ± 4,2. Thành công thủ thuật 100%. Tai biến sau can thiệp: 6,4% tai biến mạch máu não; 2,1% nhồi máu cơ tim. Tai biến sau theo dõi sau 3 tháng: 2,1 % nhồi máu cơ tim và 2,1% tai biến mạch máu não.

Kết luận: Can thiệp đặt stent động mạch cảnh hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân cao tuổi (> 60 tuổi).

Tài liệu tham khảo
[1]
CDC, Prevalence of disabilities and associated health conditions among adults-United States, 1999, MMWR Morb Mortal Wkly Rep, 2001, 50 (7), 120-125. Google Scholar
[2]
Elderle J, Brown M.M, Randomized Controlled Trials Comparing Endarterectomy and Endovascular Treatment for Carotid Artery Stenosis: A Cochrane Systematic Review, Stroke, 2009, 40, 1373-1380. Google Scholar
[3]
Ederle J, Bonati L.H, Dobson J et al, Endovascular treatment with angioplasty or stenting versus endarterectomy in patients with carotid artery stenosis in the Carotid and Vertebral Artery Transluminal Angioplasty Study (CAVATAS): long-term follow-up of a randomised trial, Lancet Neurol, 2009, 8 (10), 898-907. Google Scholar
[4]
Harjai KJ, Mehta RH, Trials and tribulations of carotid artery stenting: The Interventiona-lists’ perspective on SAPPHIRE, EVA-3S, and SPACE Trials, J. Interv Cardiol, 2007, 20 (5), 389-394. Google Scholar
[5]
Trần Nguyễn Phương Hải, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp can thiệp qua da, Luận án tến sỹ y học, Viện Nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108, 2017. Google Scholar
[6]
H.V Khương, Đánh giá hiệu quả ngắn hạn của điều trị hẹp động mạch cảnh bằng phương pháp can thiệp qua da, 2011. Google Scholar
[7]
Chaturvedi S, Sohrab S, Tselis A, Carotid stent thrombosis: report of 2 fatal cases, Stroke, 2001, 32 (11), 2700-2702. Google Scholar
[8]
Kosowski M, Gwizdek T et al, Safety and efficacy asessment of carotid artery stenting in a hight-risk population in a single-centre registry, 2014. Google Scholar
[9]
Hoàng Văn Kỳ, Đánh giá kết quả sớm của phương pháp đặt stent để điều trị hẹp động mạch cảnh do xơ vữa, Luận văn bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội, 2014. Google Scholar
[10]
Groschel K, Riecker A, Schulz J.B et al, Systematic review of early recurrent stenosis after carotid angioplasty and stenting”, Stroke, 2005, 36 (2), 367-373. Google Scholar
[11]
Alireza Khosravi, Farshad Roghani, Mohammad Saadatnia and Mohaddeseh Behjati (2018), Carotid arterial stent implantation follow-up and results in 50 patients. Google Scholar