Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ từ mẹ và thai đến ngạt sơ sinh.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu bệnh - chứng gồm 61 trẻ sơ sinh ngạt ở nhóm bệnh và 122 trẻ sơ sinh không ngạt ở nhóm chứng, điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực - Nhi sơ sinh, Trung tâm Nhi khoa và Khoa Sản, Bệnh viện Trung ương Huế, thời gian từ tháng 2/2022 đến tháng 7/2023.
Kết quả: Tổng 61 trẻ được chẩn đoán ngạt lúc sinh, mức độ ngạt nặng chiếm 37,7%, ngạt nhẹ - trung bình chiếm 62,3%. Triệu chứng lâm sàng thường gặp là suy hô hấp cần thở máy xâm nhập (44,3%), hạ thân nhiệt (21,3%), li bì/kém linh hoạt (42,6%), giảm trương lực cơ (27,8%) co giật (11,5%), tần số tim nhanh (83,6%). Tỷ lệ tăng SGOT, tăng SGPT và tăng creatinine máu lần lượt là 27,9%, 11,5% và 4,9%. Phân tích đa biến cho thấy mẹ gây mê toàn thân [OR = 16,1 (95% CI: 1,7-149,8)], nhau bong non và/hoặc nhau tiền đạo [OR = 14,8 (95% CI: 1,5-151,9)], ối vỡ kéo dài [OR = 14,0 (95% CI: 3,4-57,2)], thai suy [OR = 3,3 (95% CI: 1,3-8,5)] và thai chậm tăng trưởng trong tử cung [OR = 2,7 (95% CI: 1,1-6,3)] là những yếu tố độc lập tăng nguy cơ ngạt sơ sinh (p < 0,05).
Kết luận: Nên tầm soát các yếu tố nguy cơ ngạt sơ sinh từ bà mẹ và thai trước sinh và lúc sinh nhằm giảm tỷ lệ trẻ sinh ngạt.