Bài báo khoa học Tập 65 Số CĐ 5 - NCKH 10/07/2024

13.NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KẾT QUẢ HUYẾT THANH CHẨN ĐOÁN KÝ SINH TRÙNG Ở BỆNH NHÂN MÀY ĐAY MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Duy Hải1,2, Nguyễn Tuấn Hưng3,4, Lê Ngọc Diệp5,6
1 Doctor Skills Joint Stock Company
2 Công ty CP Doctor Skills Coaching
3 Ministry of Health
4 Bộ Y tế
5 University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
6 Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên hệ: dr.nguyenduyhai@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v65iCD5.1254
16 Lượt xem
9 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kết quả huyết thanh chẩn đoán Toxocara spp., Gnathostoma spp., Strongyloides stercoralis, Entamoeba histolytica và Fasciola spp. ở bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca bệnh được thực hiện trên 60 bệnh nhân mày đay mạn tính đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu TP. Hồ Chí Minh. Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2016 đến tháng 04/2017.
Kết quả: Tỉ lệ dương tính của huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng là 76,7%. Tỉ lệ huyết thanh dương tính của từng loại ký sinh trùng: Toxocara spp. (63,3%); Gnathostoma spp. (3,3%); Strongyloides stercoralis (16,7%); Entamoeba histolytica (3,3%); Fasciola spp. (13,3%). Tỉ lệ số lượng huyết thanh chẩn đoán dương tính với số loại ký sinh trùng lần lượt là: 1 loại (56,7%); 2 loại (16,7%); 3 loại (3,3%); Không có bệnh nhân nào dương tính đồng thời với 4 hoặc 5 ký sinh trùng.
Kết luận: Tỉ lệ huyết thanh dương tính với ký sinh trùng ở bệnh nhân mày đay mạn tính là khá cao, cao nhất với Toxocara spp.

Tài liệu tham khảo
[1]
Habif TP, Urticaria and Angioedema. Clinical Dermatology: A color guide to diagnosis and therapy, Mosby (5 edition), 2010. Google Scholar
[2]
Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh, Mày đay. Bệnh học da liễu, tài liệu dành cho đào tạo và thực hành lưu hành nội bộ, 2008, tr 414-417. Google Scholar
[3]
Lê Thị Minh Ngọc, Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân mề đay đến khám tại [11] Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh; Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y dược Thành phố H Chí Minh, 2013. Google Scholar
[4]
Bernstein AJ, Lang MA, Khan DA et al., The [12] diagnosis and management of acute and chronic urticaria: 2014 update. Journal of Allergy and Clinical Immunology, 133 (5), 2014, p. 1270- 1277. Google Scholar
[5]
Khan DA, Chronic urticaria: diagnosis and management. Allergy Asthma Proc, 29 (5), 2008, p. 439-446. Google Scholar
[6]
Grob J, Gaudy-Marqueste C, Urticaria and quality of life. Clin Rev Allergy Immunol, 30, 2006, p. 47-51. Google Scholar
[7]
MM, Chronic Urticaria: Aetiology, Management and Current and Future Treatment Options. Adis International, 64, 2004, p. 2515- 2536. Google Scholar
[8]
Harris RH, Mitchell JH, Chronic urticaria due to Giardia lamblia. Arch Derm Syphilol, 59, 1949, p. 587-589. Google Scholar
[9]
Kolkhir P, Balakirski G, Merk HF et al., Chronic spontaneous urticaria and internal parasites – a systematic review. Allergy, 71 (3), 2016, p. 308- 322. Google Scholar
[10]
Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Nồng độ Vitamin D huyết thanh trên bệnh nhân mề đay mạn tính đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, 2016. Google Scholar
[11]
Roohi R, Khalid ZM, Irfan AS et al., Chronic urticaria merits serum vitamin D evaluation and supplement: a randomized case control study. World Allergy Organ J., 8 (1), 2015, p. 15. Google Scholar
[12]
Huỳnh Thị Thanh Thùy, Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mề đay mạn tính đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/10/2013 đến 30/04/2014. Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, 2014. Google Scholar
[13]
Ngô Minh Trãi, Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân mề đay mạn tính đến khám tại Bệnh viện đa khoa Bình Thuận. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, 2016. Google Scholar