Bài báo khoa học Tập 65 Số CĐ 3 - Bệnh viện Phổi Trung ương 15/05/2024

3. YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ NUÔI CẤY ĐỜM TÌM VI KHUẨN LAO Ở NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGHI LAO PHỔI TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG NĂM 2022

Nguyễn Kim Cương1,2,3,4, Nguyễn Mạnh Thế1,3
1 National Lung Hospital
2 Hanoi Medical University
3 Bệnh viện Phổi Trung ương
4 Đại học Y Hà Nội
Tác giả liên hệ: Cuongoc@hmu.edu.vn
DOI: 10.52163/yhc.v65iCD3.1098
22 Lượt xem
8 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Chẩn đoán lao phổi ở bệnh nhân không có bằng chứng vi khuẩn học và mô bệnh học là một thách thức với các bác sĩ lâm sàng.Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố có liên quan đến kết quả nuôi cấy đờm tìm vi khuẩn lao ở những trường hợp nghi lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2022.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 179 bệnh nhân nghi lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương, không có bằng chứng vi khuẩn học. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: Nhóm nuôi cấy dương tính và nhóm nuôi cấy âm tính. Sử dụng kĩ thuật hồi quy đơn biến và đa biến xác định các yếu tố có liên quan đến kết quả nuôi cấy.

Kết quả nghiên cứu: Tỉ lệ nam/nữ: 2,5/1. Tỉ lệ nuôi cấy vi khuẩn lao môi trường lỏng dương tính 56%, âm tính 44%. Các triệu chứng hay gặp: Ho khạc đờm 53,6%; ran ẩm ran nổ 46.9%; sốt về chiều 41,9%; đau ngực 40,8%. Không có sự khác biệt về các yếu tố nguy cơ mắc lao, tổn thương nghi lao trên phim CT ngực giữa nhóm nuôi cấy dương tính và nuôi cấy âm tính. Mô hình đa biến gồm 7 biến độc lập được đưa vào mô hình: Gầy sút cân, ra mồ hôi về đêm, ho ra máu, ho khạc đờm, hút thuốc lá, tiền sử mắc bệnh lao, tổn thương trên CT ngực. Trong đó ho ra máu là triệu chứng liên quan có ý nghĩa với kết quả nuôi cấy đờm dương tính.

Kết luận: Cân nhắc điều trị bệnh lao đối với bệnh nhân có dấu hiệu ho ra máu, khi đi kèm với các triệu chứng gầy sút cân, ra mồ hôi về đêm, ho khạc đờm, hút thuốc lá, có tiền sử mắc bệnh lao và có tổn thương nghi lao trên phim CT ngực.

Tài liệu tham khảo
[1]
WHO, Global Tuberculosis Report, 2023. Google Scholar
[2]
H. F. Swai, F. M. Mugusi, J. K. Mbwambo, Google Scholar
[3]
Sputum smear negative pulmonary tuberculosis: Google Scholar
[4]
sensitivity and specificity of diagnostic algorithm, Google Scholar
[5]
BMC Res Notes, 4, 2011, p. 475. Google Scholar
[6]
O. Souza Filho J. B. de, J. M. de Seixas, R. Galliez et al., Google Scholar
[7]
A screening system for smear-negative Google Scholar
[8]
pulmonary tuberculosis using artificial neural Google Scholar
[9]
networks, Int J Infect Dis, 49, 2016, p. 33-9. Google Scholar
[10]
Wanli K, Meiying W, Kunyun Y et al., Factors Google Scholar
[11]
associated with negative T-SPOT.TB results Google Scholar
[12]
among smear-negative tuberculosis patients in Google Scholar
[13]
China, Scientific Reports, 8(1), 2018, p. 4236. Google Scholar
[14]
M. H. Nguyen, N. S. Levy, S. D. Ahuja et al., Google Scholar
[15]
Factors Associated With Sputum Culture-Negative Google Scholar
[16]
vs Culture-Positive Diagnosis of Pulmonary Google Scholar
[17]
Tuberculosis, JAMA Netw Open, 2(2), 2019, p.e187617. Google Scholar
[18]
M. V. Nguyen, E. R. Jenny-Avital, S. Burger et Google Scholar
[19]
al., Clinical and Radiographic Manifestations of Google Scholar
[20]
Sputum Culture-Negative Pulmonary Tuberculosis, Google Scholar
[21]
PLoS One, 10(10), 2015, p. e0140003. Google Scholar
[22]
Dennis L. Kasper, Anthony S. Fauci, Stephen L. Google Scholar
[23]
Hauser et al., Cough and Hemoptysis, Harrison's Google Scholar
[24]
Manual of Medicine, 19e, McGraw-Hill Education, Google Scholar
[25]
New York, NY, 2016. Google Scholar
[26]
Niaina R, Simon GL, Vaomalala R et al., Performance Google Scholar
[27]
and impact of GeneXpert MTB/RIF® and Loopamp Google Scholar
[28]
MTBC Detection Kit® assays on tuberculosis case Google Scholar
[29]
detection in Madagascar, BMC Infectious Diseases, Google Scholar
[30]
(1), 2019, p. 542. Google Scholar