Tạp chí Y học Cộng đồng https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd <p>Demo</p> vi-VN tapchiyhcd@skcd.vn (Vietnam Journal of Community Medicine) tapchiyhcd@skcd.vn (Nguyễn Thị Thương) T6, 03 Thg 4 2026 02:51:51 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 KHẢO SÁT TỶ LỆ HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI ẤU TRÙNG TOXOCARA SPP. VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175 NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4676 <p>Bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo là một bệnh ký sinh trùng truyền từ động vật sang người do ấu trùng <em>Toxocara</em> canis và <em>Toxocara cati</em> gây ra. Tại Việt Nam, điều kiện khí hậu thích hợp và tình trạng nuôi chó/mèo thả rông góp phần làm tăng nguy cơ phơi nhiễm với bệnh.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng <em>Toxocara</em> spp. và mối liên quan giữa kết quả xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán <em>Toxocara</em> spp. với các yếu tố liên quan đến kiến thức, hành vi của người tham gia tại Bệnh viện Quân Y 175.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 221 bệnh nhân đến khám ngoại trú, được chỉ định xét nghiệm ELISA tìm kháng thể IgG kháng <em>Toxocara</em> spp. và trả lời bộ câu hỏi.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng <em>Toxocara</em> spp. là 55,2%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kết quả huyết thanh dương tính và nghề nghiệp (p=0,03), tần suất tiếp xúc chó/mèo (p=0,008), tiếp xúc đất (p&lt;0,001). Trong nhóm người nuôi chó/mèo, các yếu tố có ý nghĩa thống kê gồm: hình thức nuôi chó/mèo (p=0,012), tần suất vệ sinh chuồng (p=0,006), cách xử lí phân (=0,004), tần suất tẩy giun cho chó/mèo (p=0,001). Kiến thức không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ dương tính.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ huyết thanh dương tính ấu trùng <em>Toxocara</em> spp. khá cao. Các yếu tố hành vi như tiếp xúc với đất, tiếp xúc với chó/mèo đóng vai trò quan trọng.</p> Lê Thùy Dương, Nguyễn Thanh Liêm, Lê Đỗ Nhật An, Nguyễn Thị Tường Vân, Nguyễn Thị Tươi, Trần Thị Huệ Vân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4676 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 SỰ THAY ĐỔI CỦA HỆ VI KHUẨN ĐƯỜNG RUỘT VÀ AXID BÉO CHUỖI NGẮN TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM GIUN LƯƠN STRONGYLOIDES STERCORALIS NẶNG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4677 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá sự thay đổi của hệ vi khuẩn đường ruột và acid acetic ở bệnh nhân nhiễm giun lươn (<em>Strongyloides stercoralis)</em> với mức độ khác nhau.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu này được tiến hành trên nông dân ở vùng Đông Bắc Thái Lan. Năm mươi bệnh nhân nhiễm giun lươn (<em>S. stercoralis) </em>được chia thành 2 nhóm SA, SF (SA - giun lươn <em>(S. stercoralis)</em> được phát hiện bằng phương pháp nuôi cấy trên đĩa thạch, SF - giun lươn được phát hiện bằng cả hai phương pháp: nuôi cấy trên đĩa thạch và tập trung ký sinh trùng bằng formol/ether). ADN vi khuẩn trong phân của bệnh nhân được tách chiết, sau đó gộp mẫu theo từng nhóm SA, SF và giải trình tự gen 16sRNA bằng phương pháp giải trình tự thế hệ mới dựa trên vùng 3-4 của gene này. Acid béo chuỗi ngắn - acetic acid trong máu được xác định bằng phương pháp sắc ký khí – quang phổ khối GC-MS.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ nhiễm giun lươn (<em>S. stercoralis)</em> có liên quan đến sự thay đổi của hệ vi khuẩn đường ruột và nồng độ acid acetic. So với nhóm nhiễm nhẹ (SA), nhóm nhiễm giun lươn nặng (SF) có nồng độ acid acetic giảm đáng kể, đồng thời ghi nhận sự suy giảm các giống vi khuẩn có lợi như <em>Bifidobacterium</em>, <em>Lactobacillus</em> và <em>Blautia</em>. Ngược lại, các giống vi khuẩn tiềm tàng gây bệnh bao gồm <em>Escherichia–Shigella</em>, <em>Proteus</em> và <em>Bacteroides</em> tăng lên rõ rệt ở nhóm SF. Đặc biệt, một số loài vi khuẩn sinh acid béo chuỗi ngắn có lợi như <em>Coprococcus eutactus</em>, <em>Lactobacillus salivarius</em> và <em>Lactobacillus reuteri</em> giảm mạnh ở bệnh nhân nhiễm nặng, cho thấy sự mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột liên quan đến mức độ nhiễm giun lươn.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Nhiễm giun lươn (<em>S. stercoralis</em><em>)</em> nặng làm giảm các vi khuẩn đường ruột có lợi và acid acetic trên bệnh nhân.</p> Nguyễn Thị Hải, Nông Phúc Thắng, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Doãn Thùy Dung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4677 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT, SÁN TRUYỀN QUA THỨC ĂN Ở NGƯỜI DÂN TẠI HAI XÃ THUỘC HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU, NĂM 2021 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4678 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định thực trạng nhiễm giun truyền qua đất, sán truyền qua thức ăn ở người dân xã Tả Ngảo và Tả Phìn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang tiến hành tháng 11/2021 trên 401 người dân (199 tại Tả Ngảo, 202 tại Tả Phìn), độ tuổi 6 - 65. Mẫu phân được xét nghiệm bằng kỹ thuật Kato - Katz.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Có 242/401 người (60,3%) nhiễm ít nhất 1 loại giun truyền qua đất, sán truyền qua thức ăn. Tỷ lệ nhiễm tại Tả Ngảo (67,3%) cao hơn Tả Phìn (53,5%) (OR=1,794; 95%CI: 1,196–2,691; p=0,003). Nam (60,2%) và nữ (60,5%) có tỷ lệ tương đương. Nhóm tuổi 6 -10 nhiễm cao nhất (76,1%), nhóm từ 61 tuổi trở lên có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (5%). Tỷ lệ nhiễm giun đũa 35,9%, giun tóc 10,7%, giun móc/mỏ 23,7%, sán lá phổi 3,7%. Đơn nhiễm chiếm 79,3%, nhiễm phối hợp 2 loài 18,6%, 3 loài 2,1%. Toàn bộ nhiễm giun tóc và giun móc/mỏ ở mức nhẹ. Trong 144 ca giun đũa, 6,9% nhiễm trung bình, 1,4% nhiễm nặng, còn lại nhẹ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất, sán truyền qua thức ăn tại hai xã thuộc huyện Sìn Hồ vẫn ở mức cao do đó cần triển khai các biện pháp can thiệp tẩy giun định kỳ và giáo dục vệ sinh môi trường nhằm giảm tỷ lệ nhiễm và nguy cơ tái nhiễm.</p> Vũ Thị Lâm Bình, Đỗ Trung Dũng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4678 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHIỄM SÁN LÁ NHỎ VÀ XÁC ĐỊNH TRƯỜNG HỢP NHIỄM Clonorchis sinensis LẦN ĐẦU ĐƯỢC PHÁT HIỆN TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ BẰNG HÌNH THÁI HỌC VÀ SINH HỌC PHÂN TỬ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4679 <p><strong>Mục tiêu</strong> xác định một số đặc điểm nhiễm sán lá&nbsp; nhỏ tại các xã vùng Lìa tỉnh Quảng Trị và xác định loài sán lá gan nhỏ <em>Clonorchis sinensis</em> bằng hình thái học và sinh học phân tử.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 402 người từ 2 tuổi trở lên tại xã Lìa và xã A Dơi tỉnh Quảng Trị, bằng phương pháp xét nghiệm phân Kato-Kazt và thu hồi sán trong phân bằng phương pháp đãi phân.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nhiễm sán lá nhỏ 29,60%, trong đó xã A Dơi 32,00%, xã Lìa 27,23%, thu thập được một số sán lá nhỏ qua định loại hình thái học và sinh học phân tử xác định sự xuất hiện đầu tiên sán lá gan nhỏ <em>Clonorchis sinensis</em> tại xã A Dơi, Quảng Trị.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Xác định được tỷ lệ nhiễm sán lá nhỏ trong cộng đồng người dân tại các xã vùng Lìa, tỉnh Quảng Trị, nhóm tuổi nhiễm chiếm tỷ lệ cao là nhóm tuổi lao động &gt;20 tuổi. Xác định sự hiện diện loài sán lá gan nhỏ<em> Clonorchis sinensis</em> đầu tiên tại tỉnh Quảng Trị.</p> Trần Bình Trọng, Nguyễn Hữu Giáo, Nguyễn Thị Dung, Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thanh Trầm, Đào Thị Thu Giang, Nguyễn Thị Minh Trinh, Nguyễn Thị Liên Hạnh, Lê Thị Hạnh Diệu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4679 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 NHIỄM SÁN LÁ PHỔI TRÊN NGƯỜI BỆNH XUẤT HUYẾT NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4680 <p>Báo cáo trình bày ca bệnh nhập viện do xuất huyết não trên nền tăng huyết áp, tiền sử ho đờm lẫn máu kéo dài trên 10 năm, từng nhiều lần bị chẩn đoán nhầm là viêm phế quản mạn hoặc viêm phổi. Trong quá trình điều trị, bệnh cảnh trở nên cực kỳ phức tạp với hàng loạt biến chứng nội khoa. Chẩn đoán xác định nhiễm sán lá phổi được đưa ra vào ngày thứ 7 sau khi tìm thấy trứng sán trong dịch nội khí quản, phân và xét nghiệm ELISA dương tính. Hình ảnh X-quang và CT ngực ghi nhận các tổn thương điển hình của sán lá phổi, được điều trị đặc hiệu bằng Praziquantel kết hợp hồi sức chuyên sâu. Sau hơn một tháng, bệnh nhân sạch trứng sán, các chỉ số nội khoa ổn định và được xuất viện. Nghiên cứu trường hợp bệnh này với mục đích cung cấp những hiểu biết có giá trị về cân nhắc chẩn đoán nhiễm sán lá phổi, chiến lược điều trị và ý nghĩa tiên lượng cho những người&nbsp; bệnh ho ra máu kéo dài, ngay cả khi có các bệnh lý nền phức tạp che lấp triệu chứng.</p> Phạm Ngọc Minh, Đỗ Trung Dũng, Nguyễn Ngọc Bích, Cao Vân Huyền, Phạm Ngọc Duấn, Phạm Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Huệ, Trần Kim Lâm, Đỗ Thái Sơn, Hoàng Thị Phương Thanh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4680 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 MỐI LIÊN QUAN GIỮA SỐ LƯỢNG TẾ BÀO T-CD4 VỚI TÌNH TRẠNG NHIỄM Candida spp. MIỆNG TRÊN NGƯỜI BỆNH HIV https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4682 <p>Nhiễm nấm Candida spp. miệng là bệnh nhiễm trùng cơ hội phổ biến và dễ tái phát nhất ở người bệnh mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải.<br>Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá mối liên quan giữa số lượng tế bào T-CD4 ở người mắc HIV và tình trạng nhiễm nấm Candida spp. miệng.<br>Phương pháp nghiên cứu: Phân lập và định danh vi nấm từ mẫu bệnh phẩm phết miệng của 52 bệnh nhân dương tính HIV đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Tp Thuận An, Bình Dương từ 12/2023- 06/2024 bằng môi trường CHROMagar Candida. Tế bào lympho T-CD4 của bệnh nhân được đếm bằng phương pháp đếm tế bào dòng chảy.<br>Kết quả: Tỷ lệ nhiễm Candida spp. chiếm 57,7%, trong đó C. albicans là cao nhất (50%). Tỷ lệ bệnh nhân có số lượng tế bào T-CD4 ≥ 300 và T-CD4 &lt; 300 tế bào/mm3 lần lượt là 53,8% và 46,2%. Thời gian điều trị thuốc ARV từ 31-90 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,5%. Tình trạng nhiễm nấm Candida spp. không có mối liên quan với thời gian điều trị ARV (p = 0,819) và mức T-CD4 (p = 0,080). Trong khi đó, tình trạng nhiễm nấm C. albicans có mối liên quan với người mắc HIV có số lượng tế bào T-CD4&lt;300 tế bào/mm3 (p = 0,029).<br>Kết luận: Nguy cơ nhiễm vi nấm C. albicans trên người HIV/AIDS ở nhóm bệnh có T-CD4 &lt; 300 tế bào/mm3 cao hơn 3,6 lần so với nhóm T-CD4 ≥ 300.</p> <p>&nbsp;</p> Trần Thị Huệ Vân Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4682 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 SỐT RÉT BIÊN GIỚI: GIA TĂNG VÀ THÁCH THỨC KIỂM SOÁT TẠI KHU VỰC HƯỚNG HOÁ, QUẢNG TRỊ NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4683 <p>Sốt rét liên quan di biến động biên giới là ưu tiên hiện nay; cần đánh giá xu hướng tăng, can thiệp và thách thức để cắt đứt lây truyền tại chỗ, góp phần lộ trình loại trừ sốt rét.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mục tiêu 1: Đánh giá xu hướng gia tăng và đặc điểm dịch tễ học sốt rét tại khu vực Hướng Hoá năm 2025. Mục tiêu 2: Mô tả can thiệp và thách thức trong quản lý sốt rét liên quan di biến động biên giới tại Hướng Hoá.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Cắt ngang mô tả các ca sốt rét ghi nhận tại Hướng Hóa trong 10 tháng năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Ghi nhận 47 ca, xuất hiện từ tháng 6-10; đỉnh tháng 8 (20 ca). Nam 55,3%; tuổi lao động 66,0%; dân tộc Vân Kiều 76,6%; làm rừng/rẫy 59,6%. <em>P. vivax</em> chiếm 93,7%; ca nội địa 63,8%, ca ngoại lai từ Lào 21,3%; có lây truyền tại chỗ, tập trung A Dơi. Can thiệp gồm điều tra ca bệnh chủ động phát hiện sớm, tăng cường phòng chống véc tơ, truyền thông và quản lý điều trị chặt (DOT), nhất là <em>P. vivax</em>.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Sốt rét Hướng Hóa năm 2025 gia tăng, chủ yếu ở nam &gt;15 tuổi, làm rừng/rẫy và do <em>P. vivax</em>. Can thiệp có hiệu quả nhất định, nhưng di biến động biên giới, tuân thủ điều trị P. vivax dài ngày và hành vi phòng bệnh còn hạn chế cần phối hợp can thiệp liên tục.</p> Đàm Văn Hào, Nguyễn Công Trung Dũng, Nguyễn Duy Sơn, Phan Minh Huấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4683 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT VI NẤM GÂY VIÊM ỐNG TAI NGOÀI TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH, NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4685 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ phân bố các giống vi nấm gây bệnh và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài đến khám tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.</p> <p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện từ tháng 5/2025 đến 7/2025 trên bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài đến khám tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh. Soi tươi dương tính với vi nấm hạt men khi phát hiện sợi tơ nấm giả và/hoặc rất nhiều tế bào hạt men; với vi nấm sợi tơ thấy sợi tơ nấm phân nhánh có vách ngăn. Định danh tác nhân vi nấm gây bệnh bằng hình thái học.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ viêm ống tai ngoài do vi nấm là 45,9%. Trong đó <em>Candida</em> spp. chiếm 50%, <em>Aspergillus</em> spp. chiếm 30,4%, <em>Trichophyton</em> spp. chiếm 4,4%, nhiễm phối hợp <em>Candida</em> spp. và <em>Aspergillus</em> spp. chiếm (15,2%). Bệnh nhân có triệu chứng ngứa tai và ù tai có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn lần lượt 2,29 lần và 1,91 lần so với nhóm không có các triệu chứng này (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Kết luận: </strong>Tác nhân vi nấm chiếm tỷ lệ tương đối cao (45,9%) trong các trường hợp viêm ống tai ngoài. <em>Candida </em>spp. và <em>Aspergillus </em>spp. là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu. Ngứa tai và ù tai là biểu hiện chính của bệnh.</p> Lý Khánh Linh, Từ Nguyễn Xuân Trúc, Trang Thị Hồng Nhung, Ngô Anh Duy, Nguyễn Ngọc Thể Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4685 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 TỶ LỆ, CƯỜNG ĐỘ NHIỄM MỘT SỐ LOÀI GIUN, SÁN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TẠI HAI TỈNH KON TUM VÀ ĐẮK NÔNG, NĂM 2024 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4687 <p>Khu vực miền Trung - Tây Nguyên nhiễm một số bệnh giun sán chiếm tỷ lệ cao, bên cạnh nhóm giun truyền qua đất, một số giun sán truyền từ động vật sang người như sán lá gan lớn, sán lá nhỏ, sán dây bò…, được ghi nhận mắc nhiều tại một số địa phương, vì vậy đòi hỏi có một điều tra tổng thể để xác định tỷ lệ nhiễm các loài giun sán trong cộng đồng tại một số điểm có nguy cơ cao.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm một số loài giun sán trên người tại các điểm nghiên cứu bằng kỹ thuật xét nghiệm phân Kato - Kazt.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Điều tra cắt ngang mô.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nhiễm chung các loài giun, sán: Tại xã Đăk Môn 44,31%, xã Đăk Kroong 27,14%, xã Đắk Búk So 8,45%, xã Quảng Tâm 5,45%. Cường độ nhiễm nhóm giun truyền qua đất: Giun móc/mỏ 47,46 trứng/gram phân (huyện Đăk Glei: 79,4; huyện Tuy Đức 12,08), giun tóc: 1,50 (1,90; 1,01), giun đũa: 1,13 (1,50; 0,71). Cường độ nhiễm sán lá nhỏ tại xã Đăk Môn: 171,76 trứng/gram phân, xã Đăk Kroong: 23,38, xã Đắk Búk So: 3,1 trứng/gram phân.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đã xác định được tỷ lệ, cường độ nhiễm một số loài giun sán trong cộng đồng dân cư tại hai xã Đăk Môn, Đăk Kroong (Đăk Glei) và xã Đắk Búk So, Quảng Tâm (Tuy Đức).</p> Trần Bình Trọng, Lý Chanh Ty, Nguyễn Hữu Giáo, Nguyễn Thị Thanh Trầm, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Hà Vi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4687 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 THÀNH PHẦN LOÀI NẤM ASPERGILLUS, PENICILLIUM Ở MỘT SỐ VỊ THUỐC CỔ TRUYỀN TẠI 3 CƠ SỞ KINH DOANH NỘI THÀNH HẢI PHÒNG NĂM 2024 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4688 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định thành phần loài nấm <em>Aspergillus, Pencillium </em>ở một số vị thuốc cổ truyền tại 3 cơ sở kinh doanh nội thành Hải Phòng năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang các chủng nấm <em>Aspergillus</em> và <em>Penicillium</em> thuần được chọn lọc từ các khuẩn lạc mọc trên môi trường DG18 phân lập từ vị thuốc cổ truyền . Chọn ngẫu nhiên 30 mẫu thực hiện kỹ thuật PCR và giải trình tự gen.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng thành phần loài và chiếm ưu thế là chi <em>Aspergillus </em>(24/30 chủng) trong đó <em>A. niger</em> (6/30 mẫu), tiếp theo là <em>A. chevalieri</em> và <em>P. citrinum</em> (4/30 mẫu). Nghiên cứu đã định danh thành công các loài có tiềm năng sinh độc tố cực mạnh như <em>Aspergillus flavus</em> (có khả năng sinh Aflatoxin) và đặc biệt là <em>Aspergillus steynii</em> – loài được báo cáo có khả năng sinh Ochratoxin A (OTA) cao gấp 1000 lần so với các loài thông thường. Cây phát sinh loài cho thấy các chủng nấm phân lập tại Hải Phòng có độ tương đồng trên 99-100% với các chủng chuẩn quốc tế trên GenBank.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Thành phần loài nấm trên vị thuốc cổ truyền tại nội thành Hải Phòng không chỉ đa dạng mà còn có nguy cơ tiềm tàng do hiện diện loài có khả năng sinh độc tố nấm mốc. Trong 30 chủng nấm phân lập từ vị thuốc cổ truyền có 24 chủng thuộc chi <em>Aspergillus</em>, 6 chủng thuộc chi <em>Penicillium. </em>Phân lập được 13 loài nấm trong đó <em>A</em><em>. niger</em> chiếm tỷ lệ cao nhất.</p> Bùi Thị Hồng Ánh, Võ Thị Thanh Hiền, Đinh Thị Thanh Mai, Vũ Văn Thái, Nguyễn Thị Huyền Sương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4688 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT CỦA NGƯỜI LA HỦ TẠI MƯỜNG TÈ, LAI CHÂU, NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4689 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng chống sốt rét của người La Hủ tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, năm 2025.&nbsp;</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang<strong>, </strong>tiến hành trên 400 người dân tộc La Hủ tham gia phỏng vấn. <em>Tại 3 xã Pa Vệ Sử, Tá Bạ, Pa Ủ huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu </em>từ tháng 1/2025 đến tháng 10/2025.</p> <p><strong>Kết quả:&nbsp; </strong>Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng chống sốt rét của người La Hủ là người có trình độ học vấn từ phổ thông cơ sở trở xuống có nguy cơ không đạt kiến thức cao hơn 15,8 lần và nguy cơ thực hành sai cao hơn 21,59 lần so với người có trình độ cao hơn; Nghề làm nương rẫy có nguy cơ thực hành sai cao gấp 4,5 lần so với các nghề khác, phản ánh những thách thức từ môi trường sống và làm việc đặc thù. Người có kiến thức không đạt có nguy cơ thực hành sai cao gấp 46,6 lần so với nhóm có kiến thức đạt.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Trình độ học vấn có mối liên hệ rất mạnh với cả kiến thức và thực hành, đặc thù làm nương rẫy và thói quen không ngủ màn/vệ sinh môi trường làm tăng nguy cơ thực hành không đúng lên gấp nhiều lần.</p> Đinh Thị Thanh Mai, Bùi Thị Hồng Ánh, Vũ Văn Thái, Võ Thị Thanh Hiền, Nguyễn Thị Huyền Sương Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4689 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 BÁO CÁO CA BỆNH NHIỄM ẤU TRÙNG DI CHUYỂN DO SỢI TÓC Ở BÀN CHÂN TRẺ EM https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4690 <p>Giả ấu trùng di chuyển ở da là một bệnh thường gặp ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nguyên nhân thường do các ấu trùng giun tròn. Bệnh đặc trưng bởi các tổn thương da dạng đường ngoằn ngoèo, ban đỏ, ngứa, do sự xâm nhập và di chuyển của ấu trùng giun trong da. Bài báo này báo cáo một trường hợp bệnh nhi nam 2 tuổi, sống tại Thủ Dầu Một, TP Hồ Chí Minh, với tổn thương da dạng vệt đỏ ngoằn ngoèo, giống hình ảnh giả ấu trùng di chuyển và nhập viện ở Khoa truyền nhiễm, Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tổn thương dài khoảng 3,5 cm, tại một đầu có một đoạn màu đen ngắn. Kết quả mô bệnh học và soi kính hiển vi cho thấy tổn thương không phải do ấu trùng ký sinh mà do một mảnh sợi tóc cắm dưới da. Các mảnh sợi tóc xuyên vào da có thể gây ra nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau và hình ảnh đặc biệt nhất là giả ấu trùng di chuyển. Các bác sĩ lâm sàng cần thăm khám và phân tích bệnh phẩm cẩn thận để chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời.</p> Trần Thị Huệ Vân, Nguyễn Thanh Liêm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4690 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 GIA TĂNG LAN TRUYỀN SỐT RÉT DO Plasmodium falciparum ĐE DOẠ MỤC TIÊU LOẠI TRỪ SỐT RÉT VIỆT NAM: CẢNH BÁO SỚM TỪ KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HOÀ NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4691 <p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Sau giai đoạn gia tăng sốt rét từ 7/2023, lây truyền tạm thời bị gián đoạn vào đầu năm 2025 tại Khánh Vĩnh. Tuy nhiên, sốt rét quay trở lại chủ yếu do <em>Plasmodium falciparum</em> vào 5-6/2025, đe dọa mục tiêu loại trừ sốt rét.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả sự gia tăng và đánh giá sự thay đổi đặc điểm lan truyền của <em>P.</em><em> falciparum</em> tại Khánh Vĩnh sau giai đoạn kiểm soát.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả, dựa trên hồi cứu số liệu 2022-2025 và nghiên cứu cắt ngang tại xã Khánh Đông và Khánh Thượng vào tháng 7/2025, tập trung ở nhóm nguy cơ cao mắc sốt rét. Khám lâm sàng, xét nghiệm lam máu và phỏng vấn có cấu trúc được sử dụng để đánh giá.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tổng cộng 408 đối tượng nguy cơ được sàng lọc tại xã Khánh Thượng và Khánh Đông, phát hiện 12 ca bệnh (2,94%). Tỷ lệ dương tính tại Khánh Thượng là 4,57% và Khánh Đông là 1,06%. 91,67% ca bệnh do <em>P. falciparum</em>, 50% không triệu chứng và 58,33% có giao bào, mật độ trung bình 3.606 ký sinh trùng/µl. Ghi nhận <em>P. falciparum</em> tập trung ở Khánh Thượng, cảnh báo thay đổi không gian lây truyền.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Sự gia tăng và thay đổi lan truyền <em>P. falciparum</em> tại Khánh Vĩnh, đặc biệt sốt rét không triệu chứng đe dọa mục tiêu loại trừ sốt rét. Cần tăng cường giám sát và can thiệp có mục tiêu khẩn cấp.</p> Nguyễn Công Trung Dũng, Đàm Văn Hào, Nguyễn Duy Sơn, Nguyễn Thị Thanh Trầm, Bùi Thị Ngọc Bích, Trình Hoàng Vỹ , Cao Thị Khánh Thư, Tô Ngọc Hải, Đỗ Thị Trúc Quỳnh, Đặng Thị Hoài Thu, Hồ Văn Hoàng, Huỳnh Hồng Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4691 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 NHIỄM NẤM CANDIDA ĐƯỜNG TIẾT NIỆU Ở BỆNH NHÂN ĐẶT SONDE TIỂU TẠI ĐƠN VỊ CHĂM SÓC TÍCH CỰC (ICU): NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC HUẾ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4692 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Nhiễm nấm <em>Candida</em> đường tiết niệu là tình trạng gặp phổ biến ở bệnh nhân điều trị tại đơn vị ICU, đặc biệt bệnh nhân đặt sonde tiểu. Mặc dù <em>C. albicans</em> là loài phổ biến nhất phân lập từ đường tiết niệu, nhưng sự gia tăng tỷ lệ do các loài non-<em>albicans Candida</em> cũng được báo cáo gần đây.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> 1. Xác định tỷ lệ nhiễm nấm <em>Candida</em> tiết niệu của bệnh nhân đặt sonde tiểu điều trị tại đơn vị ICU, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế. 2. Định danh loài <em>Candida</em> spp. phân lập được từ bệnh phẩm nước tiểu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 47 bệnh nhân đặt sonde tiểu đang điều trị tại đơn vị ICU, khoa Gây mê – Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế trong thời gian 05/2024 đến 05/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhiễm nấm <em>Candida </em>tiết niệu là 63,8% và tỷ lệ mẫu có số đơn vị khúm nấm <em>Candida</em> ≥ 10<sup>3 </sup>CFU/ml là 57,4%. Kết quả có 5 loài <em>Candida</em> phân lập được. Trong đó <em>C. tropicalis</em> chiếm tỷ lệ cao nhất (45,5%), tiếp theo là <em>Candida albicans</em> (33,3%) và các loài non<em>-albicans</em> <em>Candida</em> khác chiếm tỷ lệ 21,2%. Có 86,7% mẫu bệnh phẩm nước tiểu phân lập được 1 loài vi nấm và 13,3% phân lập được 2 loài vi nấm.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> <em>&nbsp;</em>non<em>- albicans Candida</em> có tỷ lệ cao hơn <em>C. albicans</em> trong bệnh phẩm nước tiểu ở bệnh nhân đặt sonde tiểu điều trị tại ICU (66,7% và 33,3%), trong đó loài phổ biến nhất là <em>C. tropicalis</em>.</p> Lê Anh Thư, Trần Thị Giang, Phạm Nhật Minh, Tôn Nữ Phương Anh, Trương Thị Huyền, Trần Thị Bích Thảo, Ngô Thị Minh Châu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4692 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG NHIỄM CANDIDA HUYẾT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4693 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Nhiễm nấm <em>Candida</em> huyết là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm nấm xâm lấn tại bệnh viện, đặc biệt ở bệnh nhân ICU, người cao tuổi, nhiều bệnh nền hoặc suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ tử vong cao, tình trạng kháng thuốc kháng nấm đặt ra thách thức trong điều trị. Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân <em>Candida</em> huyết.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 34 bệnh nhân có cấy máu dương tính với <em>Candida</em> từ 01/10/2024 – 30/9/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>nam giới chiếm 73,5%; tuổi trung bình của bệnh nhân là 65,3 ± 16,7. Bệnh lý nền hay gặp bao gồm tim mạch (52,9%), đái tháo đường (50%), tiền sử tai biến mạch máu não (26,5%), suy thận mạn (20,6%). Đại đa số bệnh nhân (70,6%) được điều trị tại ICU. Triệu chứng lâm sàng hay gặp bao gồm sốt (85,3%), viêm phổi (79,4%), sốc nhiễm trùng (47,1%), suy hô hấp (38,2%). Tổn thương trên phim X quang phổi chủ yếu dạng kẽ (44,1%), đám mờ (14,7%). Các loài <em>Candida</em> phân lập được chủ yếu là <em>C. tropicalis</em> (26,5%), <em>C. parapsilosis</em> (23,5%), <em>C. albicans</em> (29,4%). Kết quả điều trị khỏi (29,4%), tử vong (14,7%), nặng thêm (23,5%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nhiễm <em>Candida</em> huyết chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân ICU, cao tuổi, nhiều bệnh nền, với biểu hiện lâm sàng nặng. <em>Candida non – albicans</em> chiếm ưu thế (70,6%). Phát hiện sớm yếu tố nguy cơ, chẩn đoán kịp thời, lựa chọn kháng nấm phù hợp và kiểm soát nhiễm khuẩn để giảm biến chứng và tử vong.</p> Ngô Anh Thế, Trần Thị Liên, Lại Thị Quỳnh, Nguyễn Văn Lập Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4693 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 THAY ĐỔI TỔN THƯƠNG GAN DO SÁN LÁ GAN LỚN TRÊN SIÊU ÂM TẠI VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG QUY NHƠN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4694 <p><strong>Giới thiệu</strong><strong>:</strong> Bệnh sán lá gan lớn ở người là một trong những bệnh ký sinh trùng bị lãng quên, hiện đang nổi và tái nổi với tỉ lệ nhiễm tăng dần ở một số vùng trên thế giới và Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nhiễm cao nhất. Siêu âm B-mode giúp chẩn đoán và theo dõi quá trình hồi phục sau điều trị đặc hiệu, song chưa đánh giá được độ xơ hóa (độ cứng) nhu mô gan và thương tổn trên cả hệ gan-mật trong khi nhiễm Fasciola spp. Siêu âm đàn hồi mô gan là một công cụ hiện đại dùng để đánh giá mức độ xơ hóa gan (độ cứng) tổn thương, giúp theo dõi sự hồi phục tổn thương trên hệ gan mật. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá sự thay đổi của tổn thương hệ gan-mật do Fasciola spp. trên siêu âm B-mode và đàn hồi mô, theo dõi tình trạng xơ hóa nhu mô gan trước và sau điều trị thông qua sự thay đổi độ cứng nhu mô gan.</p> <p><strong>Phương pháp</strong><strong>: </strong>Một thiết kế mô tả cắt ngang trên loạt ca bệnh để mô tả đặc điểm tổn thương gan-mật do sán lá gan lớn trên siêu âm và đánh giá sự thay đổi của tổn thương gan-mật do sán lá gan lớn trước và sau điều trị triclabendazole 20mg/kg. Nghiên cứu ghi nhận 40 trường hợp nhiễm Fasciola spp. có tổn thương gan trên siêu âm và mô tả đặc điểm tổn thương gan-mật, bao gồm độ xơ hóa gan, trước và sau điều trị 1, 3 tháng.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>: </strong>Vị trí tổn thương do Fasciola spp. hay gặp ở gan phải (62,5%) hơn gan trái (27,5%) và cả hai (10%), số ổ áp xe gan chiếm cao nhất là 1 ổ (50%) và 2 ổ (40%), đường kính khối tổn thương 30-70 cao nhất (65%), tính chất hồi âm tổn thương thường gặp là hỗn hợp âm dạng điển hình gồm giảm âm ưu thế, kèm tăng âm và trống âm (60%), thấp hơn là hỗn hợp âm không điển hình (giảm âm kèm tăng âm) chiếm 30%, ít gặp nhất là tổn thương giảm âm (10%). Đo đàn hồi đánh giá độ cứng (xơ hóa) của tổn thương do Fasciola spp. theo Metavir với mức F2 chiếm tỉ lệ cao (82,5%), kế đến là F1 (17,5%) trong khi độ cứng vùng không tổn thương gan đa số ở F0 (92,68%), F1 chiếm tỉ lệ thấp (7,32%). Sau điều trị 1 và 3 tháng, số ổ tổn thương, kích thước tổn thương hầu hết đều giảm. Tính chất hồi âm của tổn thương chuyển dạng từ hỗn hợp âm với giảm âm ưu thế chuyển sang tăng âm sau 3 tháng điều trị. Độ cứng tổn thương đã thay đổi trong quá trình điều trị: sau 1 tháng, độ cứng vùng tổn thương gan từ mức F2 (82,5%), F1 (17,5%) đã chuyển sang F3 (85%) và F4 (7,5%), F2 (7,5%); sau 3 tháng, độ cứng F4 tăng lên (30%), F3 vẫn chiếm tỉ lệ cao (70%). Điều này chứng tỏ có sự xơ hóa gan ở các vùng tổn thương do Fasciola spp. trong giai đoạn hồi phục.</p> <p><strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> Siêu âm đàn hồi mô gan kết hợp B-mode hỗ trợ chẩn đoán, phân biệt tổn thương gan do Fasciola spp. dạng không điển hình với các tổn thương gan khác chính xác hơn. Trong giai đoạn hồi phục, sự xơ hóa vùng gan tổn thương cần được theo dõi.</p> Triệu Thị Phương Mai, Nguyễn Đức Chính, Trần Thị Huệ Vân, Huỳnh Hồng Quang, Lê Thị Bình Lâm, Huỳnh Hồng Quang, Hồ Văn Hoàng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4694 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 TỶ LỆ NHIỄM , LOÀI NẤM MEN PHÂN LẬP TỪ CÁC BỆNH PHẨM NUÔI CẤY TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 (1/2023 – 3/2025) https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4695 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả tỷ lệ nhiễm và đặc điểm các loài nấm men phân lập được từ các bệnh phẩm tại Bệnh viện Quân y 103 trong giai đoạn từ tháng 1/2023 đến tháng 3/2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được tiến hành từ ngày 01/01/2023 đến 30/3/2025 trên 511 bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm cấy nấm tại Bệnh viện Quân y 103. Các kỹ thuật chẩn đoán bao gồm nuôi cấy trên môi trường Sabouraud và xác định loài <em>Candida</em> trên môi trường CHROMagar™ <em>Candida</em>.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 511 bệnh nhân, có 199 trường hợp dương tính, chiếm tỷ lệ 38,9%. Nhóm tuổi ≥ 56 có tỷ lệ dương tính cao nhất (42,8%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,02). Nấm men chiếm ưu thế với 158 mẫu, trong đó chi <em>Candida</em> chiếm tỷ lệ cao nhất (95,5%). Các loài nấm men phổ biến nhất bao gồm: <em>C. albicans</em> (45,5%), <em>C. tropicalis</em> (30,3%) và <em>C. krusei</em> (20,1%). Đáng chú ý, nghiên cứu ghi nhận 1,2% trường hợp nhiễm <em>Talaromyces marneffei</em> từ bệnh phẩm chất nạo giác mạc ở bệnh nhân không suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ nấm phân lập từ bệnh phẩm đường hô hấp chiếm đa số (77%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Cần thực hiện định danh chính xác loài nấm gây bệnh để có định hướng điều trị và quản lý kháng nấm hiệu quả hơn.</p> Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Thị Duyên, Đỗ Ngọc Ánh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4695 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH ENZYME CỦA MỘT SỐ LOÀI NẤM CANDIDA SPP. ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ BỆNH NHÂN NẤM MÓNG TẠI THÀNH PHỐ HUẾ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4778 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá khả năng sinh enzyme protease, phospholipase và lipase của các loài vi nấm <em>Candida albicans</em>, <em>Candida tropicalis</em>, <em>Candida parapsilosis</em> gây bệnh nấm móng.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 90 chủng <em>Candida</em> bao gồm <em>C. albicans</em>, <em>C. tropicalis</em> và <em>C. parapsilosis</em> phân lập từ bệnh nhân nấm móng được định danh bằng thử nghiệm đồng hóa đường với kit API 20C (bioMerieux - Vitek, France). Khả năng sinh enzyme protease, phospholipase và lipase được đánh giá bằng kỹ thuật cấy điểm trên các môi trường chuyên biệt theo các công bố trước đó.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ sinh enzyme protease, lipase và phospholipase của <em>Candida </em>spp. lần lượt là 82,2%; 77,8% và 36,7%. <em>C. albicans</em> và <em>C. tropicalis</em> đều biểu hiện khả năng sinh enzyme protease và lipase ở mức rất cao với tỷ lệ lần lượt là 100% và 96,7%, <em>C. parapsilosis</em> chủ yếu không sinh enzyme hoặc hoạt động enzyme ở mức thấp (p&lt;0,001). Cả ba loài đều có khả năng sinh enzyme phospholipase thấp, tuy nhiên <em>C. albicans</em> vẫn có tỷ lệ sinh enzyme cao hơn so với hai loài còn lại (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p&lt;0,001). Hầu hết các thể bệnh lâm sàng nấm móng do <em>Candida</em> có xuất hiện khả năng sinh enzyme protease và lipase với tỷ lệ cao, tuy nhiên sự khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê (p&gt;0,05). Ngược lại, khả năng sinh enzyme phospholipase có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các biểu hiện lâm sàng (p&lt;0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> <em>Candida</em> spp. gây bệnh nấm móng có tỷ lệ cao sinh các enzyme như protease và lipase. Trong khi đó tỷ lệ sinh enzyme phospholipase thấp nhưng có liên quan đến các thể bệnh lâm sàng thương tổn xâm lấn móng.</p> Tôn Thất Đông Dương, Đỗ Thị Bích Thảo, Võ Minh Tiếp, Tôn Nữ Phương Anh, Ngô Thị Minh Châu Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4778 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 SO SÁNH GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN NHIỄM SÁN LÁ GAN Opisthorchis viverrini CỦA TEST NHANH OV ANTIGEN VỚI XÉT NGHIỆM TẬP TRUNG FORMALIN-ETHYL ACETATE TẠI HUYỆN ĐĂK GLEI, KON TUM, NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4779 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Sán lá gan nhỏ (<em>Opisthorchis viverrini</em>) là bệnh ký sinh trùng liên quan chặt chẽ đến ung thư đường mật. Tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, bệnh vẫn còn lưu hành; tuy nhiên, dữ liệu dịch tễ tại địa phương còn hạn chế. Test nhanh phát hiện kháng nguyên trong nước tiểu (OV Antigen RDT) cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sàng lọc cộng đồng. <strong>Mục tiêu:</strong> (1) Xác định tỷ lệ nhiễm <em>O. viverrini</em> bằng kỹ thuật FECT tại huyện Đăk Glei (Kon Tum) năm 2025; (2) Bước đầu so sánh một số chỉ số chẩn đoán của test nhanh OV Antigen với FECT. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp so sánh chẩn đoán. Tổng cộng 403 người ≥5 tuổi được thu thập mẫu phân để xét nghiệm FECT. Trong nghiên cứu so sánh, 49 ca FECT dương tính và 40 mẫu FECT âm tính được chọn ngẫu nhiên để thực hiện test nhanh OV Antigen trên mẫu nước tiểu. FECT được xem là tiêu chuẩn tham chiếu. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhiễm <em>O. viverrini</em> bằng FECT là 12,2% (49/403), ở mức độ nhẹ (&lt;1.000 trứng/g phân), với mật độ trung bình 49,15 ± 25,20 trứng/g. Tỷ lệ nhiễm cao hơn ở nam giới (18,2%; OR = 2,41); cao nhất ở nhóm tuổi 16–59 (15,3%); và tại xã Đăk Môn (OR = 2,88). Test nhanh OV Antigen cho độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 75%, độ chính xác 88,8% và hệ số Kappa = 0,77 (p &lt; 0,0001). <strong>Kết luận:</strong> <em>O. viverrini</em> vẫn lưu hành tại huyện Đăk Glei. Test nhanh OV Antigen cho độ nhạy cao và mức độ đồng thuận tốt với FECT, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong sàng lọc cộng đồng và giám sát dịch tễ tại các vùng nguy cơ.</p> Nguyễn Thị Dung, Trần Bình Trọng, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Thị Thanh Quyên, Lê Thị Bình Lâm, Arporn Wangwiwatsin, Paiboon Sithithaworn, Watcharin Loilome, Huỳnh Hồng Quang, Nguyễn Thị Liên Hạnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4779 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TOXOPLASMOSIS Ở NGƯỜI NHIỄM HIV TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP TỪ Y VĂN ĐẾN THỰC HÀNH LÂM SÀNG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4780 <p>Nhiễm trùng <em>Toxoplasma gondii </em>là một trong những nhiễm trùng cơ hội thường gặp và nguy hiểm ở bệnh nhân nhiễm HIV, đặc biệt khi số lượng tế bào CD4 &lt; 100 tế bào/mm³. Bệnh thường biểu hiện dưới dạng viêm não do <em>Toxoplasma gondii</em>, gây tỷ lệ tử vong và di chứng thần kinh cao nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Việc chẩn đoán <em>bệnh nhiễm Toxoplasma gondii</em> ở người nhiễm HIV còn gặp nhiều thách thức do biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu, hạn chế về phương tiện chẩn đoán chuyên sâu và sự chồng lấp với các bệnh lý thần kinh khác. Bài báo này nhằm tổng quan các bằng chứng y văn hiện nay về chẩn đoán và điều trị bệnh nhiễm trùng do <em>Toxoplasma gondii</em> ở bệnh nhân HIV, đồng thời bàn luận việc áp dụng vào thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.</p> Ngô Anh Thế, Lê Thị Thanh Hòa, Trần Thị Liên Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4780 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở NGƯỜI DÂN 2 – 65 TUỔI HUYỆN BÌNH LIÊU VÀ THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH, NĂM 2023 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4781 <p>Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun chung là 11,9 %, trong đó nhiễm giun tóc là cao nhất với 6,25%, tiếp đến là giun đũa 3,75%, thấp nhất là giun móc/mỏ 1,9%. Tỷ lệ nhiễm giun tập trung chủ yếu ở độ tuổi &gt; 15, độ tuổi &lt; 15 không phát hiện trường hợp nhiễm giun nào. Tỷ lệ nhiễm giun ở nữ cao hơn nam ở cả thị xã Quảng Yên và Huyện Bình Liêu. Những người không sử dụng bảo hộ lao động, thường xuyên uống nước lã có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn so với nhóm người dùng bảo hộ lao động và không uống nước lã. Người không rửa tay thường xuyên trước khi ăn và sau đại tiện có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn (60,4% so với 1,2%), người có sử dụng hố xí hợp vệ sinh có tỷ lệ nhiễm giun thấp hơn những người không sử dụng hố xí hợp vệ sinh (2,1% so với 68,6%), những người thường xuyên uống thuốc tẩy giun định kỳ có tỷ lệ nhiễm giun thấp hơn những người không uống (0,6% so với 65%)<em>. </em>Cần xây dựng kế hoạch can thiệp tẩy giun cho người dân trên toàn địa bàn tỉnh, đồng thời truyền thông, tư vấn cho người dân kiến thức về các bệnh giun truyền qua đất.</p> Vũ Quyết Thắng, Bùi Xuân Lâm, Nguyễn Thị Bích Hường, Nguyễn Thành Công, Đỗ Phương Anh, Vũ Thị Tươi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4781 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 MÔ HÌNH NGUY CƠ LÂY NHIỄM MẦM BỆNH SÁN LÁ GAN NHỎ CLONORCHIS SINENSIS LIÊN QUAN ĐẾN LOÀI ỐC NƯỚC NGỌT PARAFOSSARULUS MANCHOURICUS TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4783 <p><strong>Mục tiêu</strong>:&nbsp;Loài ốc nước ngọt&nbsp;<em>Parafossarulus manchouricus</em>&nbsp;là mắt xích sinh học quan trọng nhất trong chu trình lây truyền bệnh sán lá gan nhỏ (<em>Clonorchis sinensis</em>), một vấn đề y tế công cộng cấp bách tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố sinh khí hậu giới hạn sự phân bố của loài và xây dựng bản đồ nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh kí sinh trùng trên <em>P. manchouricus</em> dựa trên tiếp cận mô hình hóa sinh thái.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>:&nbsp;Chúng tôi áp dụng phương pháp mô hình hóa phân bố loài tích hợp (Ensemble Species Distribution Modelling - SDM), kết hợp bốn thuật toán học máy (Maxnet, GLM, MARS, Random Forest) để phân tích dữ liệu từ 279 điểm ghi nhận loài tại miền Bắc Việt Nam và các biến số sinh khí hậu.</p> <p><strong>Kết quả</strong>:&nbsp;Mô hình đạt độ tin cậy cao với chỉ số AUC = 0,983. Kết quả chỉ ra rằng sự phân bố của&nbsp;<em>P. manchouricus</em>&nbsp;bị chi phối mạnh mẽ bởi ba yếu tố: Dao động nhiệt độ ngày (Bio2), Nhiệt độ thấp nhất của tháng lạnh nhất (Bio6), và lượng mưa tháng khô nhất (Bio14). Nghiên cứu được thử nghiệm ở khu vực miền Bắc Việt nam vơi vùng nguy cơ cao (hotspots) được xác định tập trung tại dải ven biển thuộc Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, bao gồm các tỉnh Ninh Bình, Hải Phòng và Quảng Ninh, với tổng diện tích vùng lõi ước tính khoảng 11.490 km².</p> <p><strong>Kết luận</strong>:&nbsp;Bản đồ nguy cơ lây nhiễm cung cấp cơ sở khoa học định lượng để các cơ quan y tế dự phòng xác định các "điểm nóng" cần ưu tiên giám sát. Chiến lược kiểm soát cần tập trung vào việc quản lý môi trường ao nuôi và áp dụng các biện pháp sinh học tại các vùng có chỉ số phù hợp sinh thái cao để ngăn chặn chu trình lây nhiễm sang người.</p> Lê Quang Tuấn, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Mạnh Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4783 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC THỰC HÀNH VỀ BỆNH LANG BEN Ở NGƯỜI BỆNH TẠI TRUNG TÂM DA LIỄU HẢI PHÒNG NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4784 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ nhiễm nấm lang ben của các bệnh nhân có thương tổn lâm sàng đến khám tại Trung tâm da liễu Hải Phòng năm 2025. Và mô tả kiến thức, thực hành về bệnh lang ben của đối tượng nghiên cứu.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 288 bệnh nhân tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng. Dữ liệu được thu thập qua khám lâm sàng, xét nghiệm nấm trực tiếp bằng dung dịch KOH 10% để chẩn đoán nấm lang ben<em>,</em> cùng với phỏng vấn KAP.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ bệnh lang ben của các bệnh nhân có thương tổn lâm sàng đến khám tại Trung tâm da liễu Hải Phòng là 35,8%. Bệnh lang ben cao nhất ở nhóm trẻ em &lt; 10 tuổi và nhóm tuổi lao động 20-39 tuổi (cùng chiếm 27,2%). Về kiến thức: 69,7% đối tượng nghiên cứu biết về tác nhân gây bệnh và 94,2% nhận biết triệu chứng của bệnh là ngứa, tuy nhiên các triệu chứng khác của bệnh (ngứa tăng khi đổ mồ hôi: 23,2%; thay đổi sắc tố/vị trí: 48,5%) còn thấp; kiến thức về phòng ngừa đạt 64,7%, trong đó kiến thức về việc không mặc chung quần áo chiếm ưu thế (97,5%). Về thực hành: 40,7% đối tượng nghiên cứu vẫn mặc chung quần áo và chỉ 8,3% duy trì tắm sau khi tập thể dục, tỷ lệ sử dụng xà phòng khi tắm đạt 78,4%.</p> Nguyễn Thị Huyền Sương, Vũ Văn Thái, Võ Thị Thanh Hiền, Bùi Thị Hồng Ánh, Đỗ Thị Ngọc Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4784 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHU VỰC KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4785 <ul> <li class="show"> <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Tại khu vực Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, số ca mắc gia tăng rõ rệt trong giai đoạn 2021–2024, cho thấy nguy cơ bùng phát dịch vẫn còn hiện hữu. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đáp ứng miễn dịch sốt rét của cộng đồng có ý nghĩa quan trọng, góp phần phản ánh mức độ phơi nhiễm với ký sinh trùng và hỗ trợ xây dựng các biện pháp phòng chống phù hợp.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ người dân có kháng thể kháng sốt rét bằng phương pháp ELISA và một số yếu tố liên quan tại địa bàn nghiên cứu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại hai xã Tây Khánh Vĩnh và Nam Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa vào tháng 8 năm 2025, 1.364 người dân được lấy mẫu huyết thanh để xét nghiệm ELISA.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 1.364 mẫu huyết thanh được xét nghiệm, phát hiện 544 trường hợp có kháng thể kháng sốt rét (39,9%). Tỷ lệ ELISA dương tính ở nam (40,2%) tương đương với nữ (39,7%). Tỷ lệ ELISA dương tính thấp nhất ghi nhận ở nhóm dưới 15 tuổi (7,9%) và tăng dần ở nhóm trên 15 đến dưới 30 tuổi (39,4%); 52,7% ở nhóm trên 30 đến dưới 45 tuổi và cao nhất ở nhóm trên 45 tuổi (71%). Đối tượng nghiên cứu có tiền sử mắc sốt rét có tỷ lệ ELISA dương tính là 68%, cao hơn rõ rệt so với nhóm không có tiền sử mắc sốt rét (35,8%).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Tỷ lệ đối tượng có kháng thể kháng <em>Plasmodium </em>spp. trong quần thể nghiên cứu vẫn ở mức tương đối cao (39,9%), cần có các biện pháp truyền thông và phòng chống sốt rét cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao trong cộng đồng.</p> </li> </ul> Nguyễn Đức Long, Nguyễn Thị Thùy Dương, Vũ Thị Sang, Đặng Thị Tuyết Mai, Trần Tuyết Mai, Nguyễn Thị Hạnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4785 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH NẤM Ở DA CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI TRUNG TÂM DA LIỄU HẢI PHÒNG NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4786 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận (tóc, móng) của các bệnh nhân có tổn thương lâm sàng nghi nhiễm nấm da tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng năm 2025, mô tả một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ bệnh nấm ở da và cơ quan phụ cận ở đối tượng nghiên cứu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang<strong>, </strong>tiến hành trên 394 bệnh nhân có tổn thương lâm sàng nghi nhiễm nấm da tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng năm 2025 từ tháng 10/2025 đến tháng 12/2025.</p> <p><strong>Kết quả:&nbsp; </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận là 64%. Nam nhiễm nấm cao hơn nữ (58,7% so với 41,3%). Nhóm tuổi nhiễm nấm chiếm tỷ lệ cao nhất là 20 - 39 tuổi với 32,5%. Nhóm nghề nghiệp khác có tỷ lệ nhiễm nấm cao nhất chiếm 42,9%. Khảo sát các yếu tố liên quan cho thấy, người có cơ địa da dầu; người có tình trạng tăng tiết mồ hôi có nguy cơ nhiễm nấm cao gấp 2,2 lần và 1,67 lần so với các đối tượng khác. Các yếu tố hành vi và môi trường như dùng chung quần áo, nuôi chó mèo làm tăng nguy cơ nhiễm nấm khoảng 1,8 lần. Những bệnh nhân có tiếp xúc trực tiếp hoặc trong gia đình có người mắc nấm da có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn 2,2 lần so với nhóm không có yếu tố này.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận cao (64%), gặp chủ yếu ở nam, nhóm tuổi 20–39 và nhóm nghề nghiệp khác. Cơ địa da dầu, tăng tiết mồ hôi, tiếp xúc gần với người bệnh, thói quen sử dụng chung đồ dùng cá nhân và việc nuôi thú cưng là những yếu tố liên quan làm gia tăng nguy cơ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận.</p> Vũ Văn Thái, Bùi Thị Hồng Ánh, Đinh Thị Thanh Mai, Võ Thị Thanh Hiền, Nguyễn Thị Huyền Sương, Cao Hải Anh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4786 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ SỰ PHÂN BỐ MẬT ĐỘ VÀ Ổ BỌ GẬY NGUỒN CỦA MUỖI Ae aegyti, Ae albopictus VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI QUẢNG NINH, NĂM 2022 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4787 <p>Kết quả nghiên cứu cho thấy sự có mặt của 2 loài muỗi <em>Aedes</em> tại Quảng Ninh với tỉ lệ muỗi <em>Ae. Albopictus</em> 82,2% cao hơn nhiều so với muỗi <em>Ae. aegypti</em> 17,8%. Muỗi <em>Ae. Aegypti </em>tất cả được tìm thấy trong nhà với số lượng 35 cá thể. Muỗi <em>Ae. Albopictus</em> được tìm thấy trong nhà với 49 cá thể (30,2%). Tìm thấy muỗi <em>Ae. Albopictus</em> ở ngoài nhà là 113 cá thể (69.8%). Sự phân bố mật độ muỗi, bọ gậy của 2 loài muỗi <em>Aedes</em> có sự khác nhau. Mật độ bọ gậy và muỗi đều có tại các tháng từ tháng 4 –11. Còn từ tháng 8-10 là thời gian các chỉ số của loài Aedes cao nhất (BI = 57, MĐM = 0,5 con/nhà). Dụng cụ chứa nước có bọ gậy <em>Aedes</em> nhiều nhất là xô, thùng chiếm 31,3%, dụng cụ phế thải 26,6%, còn lại là các dụng cụ chứa nước khác. Cần theo dõi, giám sát và đánh giá chỉ số véc tơ sốt xuất huyết dengue vào các tháng cao điểm, đặc biệt các tháng 8 – 10. Định kỳ cần tổ chức các đợt tiêu diệt ổ bọ gậy, đồng thời tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người dân về các biện pháp phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue.&nbsp;</p> Vũ Quyết Thắng, Nguyễn Thị Bích Hường, Bùi Xuân Lâm, Nguyễn Thành Công, Vũ Thị Tươi, Hoàng Mai Chi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4787 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NHIỄM GIUN SÁN VỚI BẠCH CẦU ÁI TOAN VÀ IMMUNOGLOBULIN E TOÀN PHẦN Ở BỆNH NHÂN CÓ HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI CÁC LOẠI GIUN SÁN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4788 <p><strong>Giới thiệu</strong>: Bệnh do giun sán là bệnh ký sinh trùng thường gặp ở người, đặc biệt là các loại giun sán truyền từ động vật sang người, gây hại trực tiếp đến con người. Trước sự xâm nhập của ký sinh trùng, khi bị nhiễm, cơ thể con người xuất hiện nhiều phản ứng vừa là hậu quả của hiện tượng ký sinh vừa là cơ chế chống lại ký sinh trùng, dưới những thay đổi ở tế bào, mô và huyết thanh như tăng bạch cầu, tăng bạch cầu ái toan và tăng imunoglobulin E (IgE) toàn phần. Mục tiêu nghiên cứu là xác định tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan và kháng thể IgE toàn phần ở người có huyết thanh dương tính với các loại giun sán và đánh giá mối liên quan giữa nhiễm giun sán với bạch cầu ái toan và IgE toàn phần.</p> <p><strong>P</strong><strong>hương pháp</strong>: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ 01/2023 đến 11/2023 trên 503 bệnh nhân có kết quả xét nghiệm huyết thanh dương tính với các loại giun sán tại phòng khám Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tất cả nhóm bệnh nhân dương tính với các giun sán đều có tỷ lệ IgE toàn phần dương tính cao &gt; 80%, trong đó dương tính với <em>Toxocara canis </em>cao nhất 86,8%, dương tính với <em>Echinococcus</em> sp. thấp nhất 75,8%. Bệnh nhân dương tính với giun sán ở nhóm &gt; 60 tuổi có tỷ lệ IgE toàn phần dương tính cao nhất với 91,7%, nhưng nồng độ trung bình IgE toàn phần cao nhất ở nhóm 6-15 tuổi với 912,8 IU/ml. &nbsp;Tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan của các nhóm bệnh nhân nghiên cứu không cao, ở hầu hết các loại giun sán đều &lt; 50%, trong đó dương tính với <em>Cysticercus</em> <em>cellulosae</em> cao nhất 59,8% (70/117), dương tính với <em>Strongloides stercoralis</em> thấp nhất 27,9% (36/129). Tỷ lệ bạch cầu ái toan từ 6-20% gặp nhiều nhất chiếm 38,17% và có 10,14% trường hợp có tỷ lệ bạch cầu ái toan &gt; 20%. Nhóm dương tính <em>Toxocara canis </em>có IgE toàn phần tăng: cao nhất 86,8% nhưng nồng độ trung bình IgE toàn phần dương tính với <em>Cysticercus cellulosae </em>cao nhất: trung bình 1017,08 IU/ml. Nhóm dương tính<em> S. stercoralis</em> thấp nhất trong các loại giun sán với nồng độ trung bình IgE toàn phần 636,49 IU/ml. Tỷ lệ bạch cầu ái toan và IgE toàn phần có mối liên quan trong các bệnh nhân huyết thanh dương tính với <em>S. stercoralis</em>, <em>G. spinigerum</em> và<em> Fasciola</em> spp. có ý nghĩa thống kê. Riêng nhóm dương tính <em>T. </em><em>canis </em>tăng IgE toàn phần nhiều hơn bạch cầu ái toan còn &nbsp;nhóm dương tinh <em>C. </em><em>cellulosae </em>thì tăng bạch cầu ái toan nhiều hơn IgE toàn phần.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Càng nhiễm nhiều loại giun sán thì tỷ lệ và nồng độ IgE toàn phần tăng càng cao. Ở nhóm dương tính các loại giun sán mà có tăng tỷ lệ bạch cầu ái toan thì nồng độ IgE toàn phần tăng cao nhiều hơn nhóm có tỷ lệ bạch cầu ái toan bình thường.</p> Đào Trịnh Khánh Ly, Nguyễn Đức Chính, Lê Thị Bình Lâm, Châu Văn Khánh, Nguyễn Thị Lệ Hằng, Huỳnh Hồng Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4788 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 TỈ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI TOXOCARA SPP. Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA, NĂM 2024 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4790 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Bệnh ấu trùng giun đũa chó, mèo (Human Toxocariasis), gây ra bởi ấu trùng <em>Toxocara</em> spp., là bệnh lây truyền từ động vật sang người qua đường tiêu hoá. Bệnh thường biểu hiện dưới dạng dương tính huyết thanh không triệu chứng hoặc các hội chứng nghiêm trọng như Ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM). Tỷ lệ lưu hành cao ở Việt Nam và các yếu tố hành vi (như nuôi chó mèo, vệ sinh) là mối quan ngại về sức khỏe cộng đồng, thúc đẩy nghiên cứu này tại Bà Rịa – Vũng Tàu.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>(i) Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với <em>Toxocara spp.</em>. (ii). Mô tả một số yếu tố liên quan đến huyết thanh dương tính với kháng thể IgG kháng <em>Toxocara</em> spp.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 506 bệnh nhân tại Bệnh viện Bà Rịa. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn KAP và xét nghiệm ELISA để chẩn đoán IgG kháng <em>Toxocara spp.</em>, cùng với chỉ số bạch cầu áii toan (BCAT). Phân tích thống kê sử dụng hồi quy logistics để xác định tỷ số chênh (OR) của một số yếu tố nguy cơ độc lập.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>1.Tỷ lệ huyết thanh dương tính chung là 16,0% (81/506). 2. Có bốn yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê được xác định: Không tẩy giun cho vật nuôi (OR = 3,08; p &lt; 0,001) là yếu tố nguy cơ mạnh nhất; Tăng BCAT (OR = 2,45; p &lt; 0,001); Nghề nghiệp nông nghiệp và Buôn bán nhỏ (OR = 1,96; p = 0,004) và&nbsp; thường xuyên ăn rau sống (OR = 1,52; p = 0,019).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ phơi nhiễm <em>Toxocara </em>spp<em>.</em> tại điểm nghiên cứu là 16,0%. Các yếu tố nguy cơ hành vi và môi trường (đặc biệt là quản lý vật nuôi kém) đóng vai trò chủ đạo. Cần tăng cường giáo dục về tẩy giun định kỳ cho vật nuôi và vệ sinh thực phẩm để kiểm soát lây nhiễm.</p> Thân Trọng Quang, Nguyễn Huyền Trang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4790 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG NHIỄM NẤM TRÊN CÁC VỊ THUỐC ĐÔNG DƯỢC TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TỈNH NGHỆ AN NĂM 2023 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4791 <p>Đề tài: <strong><em>Đánh giá hiệu quả phòng chống nhiễm nấm trên các vị thuốc đông dược tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Nghệ An</em></strong>. Thiết kế&nbsp; nghiên cứu can thiệp không ngẫu nhiên, không đối chứng, so sánh trước sau, cỡ mẫu nghiên cứu là 2 nhà kho bảo quản thuốc và các&nbsp; trang thiết bị phục vụ bảo quản thuốc như máy điều hòa, máy hút ẩm, nhiệt kế, ẩm kế, quạt thông gió, túi hút ẩm cùng 170 mẫu thuốc đông dược tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An. Các kỹ thuật giám sát môi trường vi khí hậu trong kho thuốc, kỹ thuật nuôi cấy nấm trong môi trường Sabouraud. Kết quả: Trước can thiệp cả 2 kho đều không đạt yêu cầu điều kiện bảo quản thuốc, nhiệt độ trung bình ở 4 góc kho và giữa trung tâm kho là&nbsp; &gt; 25ºC, độ ẩm &gt; 70%, tốc độ gió&nbsp; &lt; 0,5m/s, sau can thiệp 12 tháng, ở cả 2 kho đều có nhiệt độ trung bình ở 4 góc kho và giữa trung tâm kho là &lt; 25ºC, độ ẩm &lt; 70%, tốc độ gió&nbsp; 0,5m/s đến 1 m/s, đạt yêu cầu điều kiện bảo quản thuốc. Tỷ lệ nhiễm nấm chung ở 2 kho trước can thiệp 32,94%(56/170) giảm xuống còn 22,35%(38/170) sau can thiệp 12 tháng, hiệu quả can thiệp là 32,15%. Tỷ lệ nhiễm nấm <em>Aspergillus</em> sau can thiệp 12 tháng giảm từ 16,47%(24/170) xuống còn 6,47%(11/170), hiệu quả can thiệp 54,15%,&nbsp;</p> Hồ Văn Thăng, Nguyễn Thị Kim Dinh, Nguyễn Thị Nga, Dương Đình Chỉnh, Cao Bá Lợi, Trịnh Thị Thúy, Đỗ Hải Anh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4791 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 TỶ LỆ NHIỄM CANDIDA SPP. TRÊN MẪU CẤY MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4792 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ nhiễm <em>Candida</em> spp. trên mẫu cấy máu và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh năm 2025.</p> <p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Tất cả các mẫu có chỉ định cấy máu tại Khoa Hóa sinh – Vi sinh, Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh. Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ tháng 8/2025 đến tháng 10/2025.</p> <p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 247 đối tượng tham gia nghiên cứu khi tiến hành nuôi cấy trên môi trường Sabouraud Dextrose Chloramphenicol Agar cho tỷ lệ nhiễm <em>Candida</em> spp. trên mẫu cấy máu là 35 trường hợp chiếm 14,2%. Phân lập được các loài như: <em>Candida albicans </em>(42,9%), <em>Candida glabrata </em>(25,7%),<em> Candida tropicalis </em>(8,6%),<em> Candida krusei </em>(5,7%),<em> Candida </em>spp<em>. </em>(17,1%). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm <em>Candida</em> spp. trên mẫu cấy máu có liên quan đến bệnh đái tháo đường (PR = 2,59, KTC 95%: 1,27 – 5,29), mối liên quan này là có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,05).</p> <p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ nhiễm <em>Candida </em>spp<em>.</em> trên mẫu cấy máu của đối tượng nghiên cứu là 14,2% với sự phân bố đa dạng các loài, trong đó <em>Candida albicans</em> vẫn là tác nhân chiếm ưu thế. Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ hiện mắc nhiễm <em>Candida </em>spp. ở nhóm đối tượng mắc đái tháo đường cao hơn so với nhóm không mắc đái tháo đường.</p> Lưu Hoàng Minh Phương, Lý Khánh Linh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4792 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 CƠ CẤU HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI KÝ SINH TRÙNG TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH CHUYÊN KHOA VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG QUY NHƠN NĂM 2023 – 2024 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4793 <p>Nghiên cứu được tiến hành thu thập toàn bộ kết quả xét nghiệm huyết thanh của 190.090 lượt khám bệnh của người dân tại Phòng Khám bệnh chuyên khoa, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2024 nhằm mô tả cơ cấu huyết thanh dương tính với ký sinh trùng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với ít nhất một loại ký sinh trùng là 20,6%. Trong đó, sán dây lợn (9,4%) và sán lá gan lớn (7,9%) có tỷ lệ huyết thanh dương tính cao nhất, thấp nhất là Amip và giun đầu gai với tỷ lệ huyết thanh dương tính lần lượt là 2,5% và 4,4%. Tỷ lệ đơn nhiễm trong số đối tượng có huyết thanh dương tính với ký sinh trùng chiếm 79,4%. Nhóm tuổi của đối tượng có huyết thanh dương tính với ký sinh trùng thường gặp nhất là trên 30 tuổi (với nhóm 31-60 là 22,0% và trên 60 tuổi là 23,1%). Nữ giới có tỷ lệ huyết thanh dương tính với các loại ký sinh trùng cao hơn nam giới (21,8% so với 18,9%, p&lt;0,001). Theo mô hình hồi quy logistic đa biến, các yếu tố: năm khám bệnh, nhóm tuổi, giới tính và nơi cư trú liên quan đến tỷ lệ huyết thanh dương tính với ký sinh trùng (p&lt;0,001).&nbsp;</p> Hồ Đắc Thoan, Huỳnh Hồng Quang, Phùng Phương Nha, Lê Quốc Hoài Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4793 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NẤM DA TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4794 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố liên quan đến nấm da trên người bệnh đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Bệnh nhân được chẩn đoán nấm da bằng xét nghiệm soi tươi và nuôi cấy trên môi trường Dermatophytes Test Agar. Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn các thông tin liên quan đặc điểm dịch tễ và các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ nhiễm nấm da ở người bệnh có tổn thương nghi ngờ nhiễm nấm là 26%. Nhóm tuổi ≥ 60 có tỷ lệ nhiễm nấm da cao hơn so với nhóm &lt; 20 tuổi (p = 0,03). Tỷ lệ nhiễm ở nam (27,8%) cao hơn nữ (24,2%), nhưng không có ý nghĩa thống kê (p &gt; 0,05). Người bệnh sống tại nông thôn có tỷ lệ nhiễm nấm da cao hơn có ý nghĩa thống kê so với thành thị (p &lt; 0,05). Cư trú nông thôn (AOR = 2,23; p &lt; 0,05), sử dụng corticoid (AOR = 5,90; p &lt; 0,001) và mặc quần áo ẩm (AOR = 6,28; p &lt; 0,001) là các yếu tố liên quan độc lập với nhiễm nấm da.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>Nấm da vẫn là bệnh lý thường gặp, đặc biệt ở người cao tuổi. Các yếu tố hành vi và môi trường, nhất là sử dụng corticoid và mặc quần áo ẩm, đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ nhiễm nấm da.</p> Nguyễn Thị Thảo Linh, Huỳnh Gia Bảo, Lê Trần Anh, Phan Hoàng Đạt, Trần Quang Phục Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4794 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 MỨC ĐỘ NHẠY CẢM VÀ HIỆU LỰC DIỆT SINH HỌC CỦA HÓA CHẤT VỚI MUỖI AEDES Ở MỘT SỐ ĐIỂM TẠI KHU VỰC NAM BỘ NĂM 2024 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4795 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định mức độ nhạy cảm và hiệu lực diệt sinh học của hóa chất diệt côn trùng với muỗi <em>Ae. aegypti</em> và <em>Ae. albopictus</em> tại một số điểm ở khu Nam Bộ năm 2024</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Thử nghiệm có đối chứng</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Muỗi <em>Ae. aegypti</em> 02/04 điểm kháng, 02/04 điểm tăng sức chịu đựng với hóa chất Deltamethrin 0,05%; 04/05 điểm kháng, 01/05 điểm nhạy với Alphacypermethrin 0,08%; 03/03 điểm kháng với Permethrin 0,75%; 02/02 điểm còn nhạy với hóa chất Malathion 5%. Muỗi <em>Ae. albopictus</em> 02/02 điểm kháng với hóa chất Deltamethrin 0,05%; 01/01 điểm nhạy với Alphacypermethrin 0,08%; 01/01 điểm kháng với Permethrin 0,75%. Hiệu lực diệt sinh học đối với muỗi <em>Ae. aegypti</em> 06/07 điểm đạt, 01/07 điểm không đạt; muỗi <em>Ae. aegypti</em> 02/02 điểm đạt.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Muỗi <em>Aedes aegypti </em>và <em>Aedes albopictus</em> (F1) nở từ bọ gậy được thu thập tại các điểm nghiên cứu đã kháng với Deltamethrin 0,05%, Alphacypermethrin 0,08%, Permethrin 0,75%, nhưng vẫn còn nhạy với Malathion 5%; các hóa chất sử dụng trong chương trình phòng chống sốt xuất tại các các tỉnh vẫn còn hiệu lực diệt tốt.</p> Giang Hán Minh, Đoàn Bình Minh, Phạm Nguyễn Thúy Vy, Mai Đình Thắng, Lê Tấn Kiệt, Phạm Thị Nhung, Đỗ Quốc Hoa, Nguyễn Hữu Phúc, Phan Văn Ý, Phan Võ Quỳnh Như, Ngô Hằng Thủy Trúc, Nguyễn Hoàng Minh Anh, Nguyễn Quế Anh, Lê Hồng Tây, Cao Thị Hường, Nguyễn Tuấn Dũng, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Thị Ngọc Yến, Trần Đỗ Thanh Phong, Hà Thị Thùy Dương, Trịnh Thị Thanh Tuyền, Trịnh Thị Thanh Tuyền, Lữ Đức Thành, Nguyễn Ngọc Trang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4795 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ SỐT RÉT KHU VỰC NAM BỘ - LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN NĂM 2021 - 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4796 <p>Mục tiêu: đánh giá lại đặc điểm dịch tễ học sốt rét hiện nay và phân tích những khó khăn trong công tác loại trừ sốt rét và phòng sốt rét quay lại ở khu vực.</p> <p>Phương pháp tìm kiếm và tổng quan tài liệu: Hồi cứu mô tả số liệu về tình hình sốt rét. Phân tích số liệu bệnh nhân sốt rét, sốt rét ác tính, tử vong sốt rét, đánh giá dịch tễ học, ký sinh trùng sốt rét, côn trùng sốt rét.</p> <p>Kết quả: Tình hình sốt rét giảm, không có dịch sốt rét xãy ra, phân bố trường hợp bệnh đều theo các tháng trong năm, Có hơn 20 loài Anopheles (3 véc tơ chính truyền bệnh sốt rét), còn nhiều khó khan, thách thức trong công tác phòng chống và loại trừ sốt rét như hệ thống phòng chống sốt rét, sốt rét kháng thuốc, mỗi kháng hóa chất, nguy cơ sốt rét từ khỉ sang người</p> <p>Kết luận: tình hình sốt rét ở khu vực có xu hướng giảm và giảm đều tất cả các chỉ số. Các trường hợp sốt rét nội địa chủ yếu tập trung ở tỉnh Bình Phước cũ. Năm 2025 có 19/20 tỉnh/thành đã đạt tiêu chí loại trừ sốt rét. Những khó khăn và thách thức cho công tác phòng chống và loại trừ sốt rét, phòng chống sốt rét quay lại hiện nay và thời gian tới như nguồn lực, tình hình sốt rét kháng thuốc, muỗi sốt rét kháng hóa chất, nguy cơ sốt rét từ khỉ (do ký sinh trùng <em>P. knowlesi</em>) sang người cao, sốt rét ngoại lại từ châu Phi và một sốt khu vực sốt rét lưu hành trong và ngoài nước luôn hiện hữu.</p> Đoàn Bình Minh, Lê Thị Chiến, Giang Hán Minh, Phan Võ Quỳnh Như, Phạm Nguyễn Thúy Vy, Nguyễn Văn Khởi, Trần Quang Vũ, Nguyễn Sỹ Hải, Nguyễn Văn Hoàn, Lê Thị Chiến, Nguyễn Thị Lài, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thái Phan Thúy Loan, Lê Văn Bằng, Mai Đình Thắng, Lê Tấn Kiệt, Phạm Thị Nhung, Lê Hồng Tây, Cao Thị Hường, Đỗ Thị Phượng Linh, Nguyễn Đức Thắng, Ngô Thị Hồng Phương, Hoàng Oanh, Huỳnh Kha Thảo Hiền, Ngô Hằng Thủy Trúc, Nguyễn Thị Ngọc Yến, Trần Đỗ Thanh Phong, Hà Thị Thùy Dương, Nguyễn Thị Thanh Tuyền, Lê Trần Thúy Vy, Nguyễn Văn Dung Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4796 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NẤM DA TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4797 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng nấm da tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang 100 người bệnh bệnh nấm da tại Bệnh viện Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Một nghiên cứu trên 100 người bệnh mắc nấm da tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ cho thấy, các tổn thương thường gặp là ban đỏ 96%, dát 88%, có ranh giới rõ ràng 80%; vị trí tổn thương thường gặp là bụng và chi trên với tỷ lệ đều là 23%; lưng và chi dưới với tỷ lệ lần lượt là 21% và 20%. Số lượng tổn thương từ 2 - 5 là nhiều nhất (43%), diện tích tổn thương ≤ 1 bàn tay là phổ biến nhất (53%), mức độ tổn thương trung bình và nặng, lần lượt là 40% và 39%. Biểu hiện lâm sàng của nấm da toàn thân chiếm ưu thế. Đa số có thời gian mắc bệnh dưới 3 tháng (51%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Đặc điểm lâm sàng nấm da phổ biến tổn là tổn thương dạng hồng ban, dát da, có ranh giới rõ, bờ liên tục, số lượng từ 2 – 5 tổn thương, mức độ từ vừa và nặng, thể phổ biến nhất là nấm thân, thời gian mắc bệnh thường dưới 3 tháng.</p> Nguyễn Thị Thảo Linh, Trần Quang Phục, Lê Trần Anh, Phan Hoàng Đạt, Huỳnh Gia Bảo Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4797 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000 BÁO CÁO CA BỆNH HỘI CHỨNG TĂNG NHIỄM GIUN LƯƠN TRÊN BỆNH NHÂN CUSHING DO SỬ DỤNG THUỐC CORTICOID KÉO DÀI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4799 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Bệnh giun lươn thường gặp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, khi nhiễm giun lươn có thể gây hội chứng tăng nhiễm giun lươn, bệnh thường diễn tiến nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chúng tôi thông báo ca bệnh mắc hội chứng tăng nhiễm giun lươn ở bệnh nhân có hội chứng Cushing do sử dụng corticoid kéo dài kèm theo đái tháo đường típ 2 nhằm chia sẻ các thông tin giúp các nhà lâm sàng có thêm những dữ liệu cân thiết trong thực hành điều trị bệnh.</p> <p><strong>Trình bày ca bệnh</strong>: Bệnh nhân nữ 74 tuổi ngụ tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, thoái hóa khớp gối nhiều năm đã được điều trị với thuốc kháng viêm corticosteroid. Bệnh nhân nhập viện vì khó thở, mệt. Triệu chứng đường hô hấp khó thở ngày càng tăng, được điều trị oxy mask có túi dự trữ sau đó được đặt nội khí quản thở máy. Xét nghiệm đàm và soi phân cho thấy ấu trùng giun lươn. Cấy máu dương tính Enterococcus faecium nhạy Vancomycin. Xét nghiệm Eosinophil máu bình thường tại thời điểm nhập viện. Trong quá trình điều trị bệnh nhân xuất hiện biến chứng viêm phổi nặng kèm hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), xuất huyết tiêu hóa trên nghi do loét dạ dày tá tràng. Bệnh nhân được điều trị Ivermectin, phối hợp kháng sinh Meropenem và Vancomycin. Sau 9 ngày điều trị bệnh nhân cai được máy thở, sau 16 ngày điều trị bệnh nhân khỏi bệnh xuất viện.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Hội chứng tăng nhiễm giun lươn trên bệnh nhân sử dụng corticosteroid kéo dài có tiên lượng tử vong cao với bệnh cảnh suy hô hấp cấp (ARDS) và nhiễm trùng huyết thứ phát. Tình trạng bạch cầu ái toan trong giới hạn bình thường là một thách thức lớn, dễ gây bỏ sót chẩn đoán. Cần chủ động tầm soát ký sinh trùng trước khi điều trị ức chế miễn dịch và phối hợp sớm Ivermectin liều cao cùng hồi sức tích cực để cải thiện kết cục lâm sàng.</p> Trương Ngọc Trung, Hà Thị Hải Đường, Lê Thái Kim Thư, Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Phan Thị Thu Tâm, Đường Ngọc Lan, Dư Lê Thanh Xuân, Võ Thanh Lâm, Võ Thị Hồng Nhi, Nguyễn Huỳnh Thanh Trúc, Lưu Minh Khoa, Nguyễn Hà Hồng Tiến, Vũ Thị Hải Hậu, Phạm Thị Như Ý Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/4799 T6, 03 Thg 4 2026 00:00:00 +0000