Tạp chí Y học Cộng đồng https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd <p>Demo</p> vi-VN tapchiyhcd@skcd.vn (Vietnam Journal of Community Medicine) tapchiyhcd@skcd.vn (Nguyễn Thị Thương) T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN CƯƠNG DƯƠNG BẰNG MÁY TỪ TRƯỜNG ED60 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5792 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả bước đầu điều trị rối loạn cương dương bằng máy từ trường ED60.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả tiến cứu, không có nhóm chứng, được thực hiện trên 38 bệnh nhân rối loạn cương dương. Hiệu quả bước đầu được đánh giá thông qua thang điểm IIEF-5 trước và sau can thiệp. Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê với các chỉ số trung bình, độ lệch chuẩn và kiểm định t-test, mức ý nghĩa p &lt; 0,05.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sau điều trị, IIEF-5 tăng từ 9,47 ± 2,75 điểm lên 12,45 ± 2,55 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,001). Hiệu quả cải thiện ghi nhận ở tất cả các nhóm tuổi. Đa số bệnh nhân đánh giá mức độ chấp nhận được hoặc hài lòng sau điều trị.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Điều trị bằng máy từ trường ED60 ghi nhận sự cải thiện bước đầu về điểm IIEF-5 và không ghi nhận biến chứng trong thời gian theo dõi ngắn. Tuy nhiên, do nghiên cứu chưa có nhóm chứng, cỡ mẫu nhỏ và thời gian theo dõi còn hạn chế, cần có các nghiên cứu đối chứng với cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định hiệu quả dài hạn.</p> Trương Văn Phi, Nguyễn Quang, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Thị Thu, Trần Văn Khôi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5792 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 SO SÁNH CHẤT LƯỢNG ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC CỦA NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI QUA NIỆU ĐẠO CẮT ĐỐT TUYẾN TIỀN LIỆT VÀ NỘI SOI BÓC NHÂN TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG LASER HOLMIUM https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5793 <p>&nbsp;</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> So sánh chất lượng đời sống tình dục của người bệnh sau phẫu thuật nội soi qua niệu đạo cắt đốt tuyến tiền liệt (TURP) và nội soi bóc nhân tuyến tiền liệt bằng laser Holmium (HoLEP).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu so sánh trên hai nhóm bệnh nhân phì đại lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật tại Bệnh viện 19-8, Bộ Công an. Nhóm TURP gồm 122 bệnh nhân (01/2024-12/2024), nhóm HoLEP gồm 52 bệnh nhân (01/2023-01/2025). Các chỉ số đánh giá bao gồm IPSS, QoL, IIEF-5, IIEF-15 và MSHQ-EjD tại các thời điểm trước và sau phẫu thuật (3 tháng đối với TURP và 12 tháng đối với HoLEP). Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS với mức ý nghĩa thống kê p &lt; 0,05.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Cả hai phương pháp đều cải thiện rõ rệt triệu chứng đường tiểu dưới và chất lượng cuộc sống (p &lt; 0,05). Điểm IPSS giảm từ 22,71 ± 3,98 xuống 7,35 ± 3,53 ở nhóm TURP và cải thiện tương tự ở nhóm HoLEP. Chức năng cương dương không thay đổi có ý nghĩa thống kê ở cả hai nhóm (TURP: 18,62 ± 4,44 so với 17,23 ± 6,5; HoLEP: 18,6 so với 17,0; p &gt; 0,05). Ngược lại, chức năng xuất tinh suy giảm rõ rệt. Điểm MSHQ-EjD giảm từ 16,26 ± 2,03 xuống 10,21 ± 5,18 ở nhóm TURP và từ 16,2 xuống 10,8 ở nhóm HoLEP (p &lt; 0,05). Tỷ lệ xuất tinh ngược dòng ở nhóm HoLEP (90%) cao hơn đáng kể so với nhóm TURP (≈ 12,3%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> TURP và HoLEP đều là phương pháp hiệu quả trong cải thiện triệu chứng đường tiểu dưới và duy trì chức năng cương dương. Tuy nhiên, HoLEP gây ảnh hưởng rõ rệt hơn đến chức năng xuất tinh so với TURP. Việc tư vấn trước phẫu thuật về các thay đổi chức năng tình dục, đặc biệt là xuất tinh, là cần thiết để tối ưu hóa lựa chọn điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.</p> Nguyễn Trần Thành, Nguyễn Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5793 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ XUẤT TINH SỚM TẠI PHÒNG KHÁM ĐA KHOA HẢI NGOẠI, THANH HÓA https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5794 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân xuất tính sớm; và đánh giá kết quả điều trị bằng phác đồ phối hợp Dapoxetin 60 mg với Tadalafil 10 mg.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> 55 bệnh nhân xuất tinh sớm thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang các đặc điểm: tuổi, đặc điểm xuất tinh sớm, bệnh kèm, điểm PEDT, điểm SHIM, điểm QoL, tác dụng của phác đồ phối hợp.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình 34,47 ± 8,92 (18-65 tuổi), độ tuổi dưới 40 chiếm 50,09%. Thời gian xuất tinh trước điều trị: 1,78 ± 0,42 phút (1-2 phút). Kích thước tuyến tiền liệt 13,76 ± 2,7 gam (10-23 gam); trong số các bệnh kèm theo xuất tinh sớm, giãn tĩnh mạch tinh chiếm đa số (21,82%). Tổng điểm PEDT trước điều trị 15,22 ± 2,25 điểm; điểm QoL 4,87 ± 0,88 điểm (p &lt; 0,05); điểm SHIM trung bình 18,11 ± 1,65 điểm, không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi; sau điều trị, điểm PEDT và SHIM có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p &lt; 0,05. Đánh giá chất lượng cuộc sống sau điều trị đã cải thiện tốt, 100% bệnh nhân hài lòng với kết quả điều trị, điểm so sánh trước-sau điều trị: QoL có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p &lt; 0,05.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Xuất tinh sớm gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Phối hợp Dapoxetine 60 mg với Tadalafil 10 mg trong điều trị đã cải thiện tình trạng xuất tinh sớm, tăng điểm SHIM, cải thiện chất lượng cuộc sống có ý nghĩa thống kê. Do số bệnh nhân trong nghiên cứu còn ít và thời gian theo dõi ngắn, cần có thêm số lượng và đánh giá xa hơn.</p> Lê Ngọc Hải Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5794 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG MÃN DỤC Ở NAM GIỚI TRÊN 40 TUỔI ĐẾN KHÁM TẠI PHÒNG KHÁM NAM HỌC, BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5795 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng mãn dục nam và phân tích một số yếu tố liên quan ở nam giới trên 40 tuổi tại phòng khám Nam học, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 260 nam giới từ 40 tuổi trở lên. Tình trạng mãn dục được đánh giá qua bộ câu hỏi ADAM và xét nghiệm nồng độ testosterone máu.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu tập trung cao nhất ở nhóm 51-60 tuổi (34,6%). Tỷ lệ đối tượng có triệu chứng mãn dục theo bảng điểm ADAM (+) là 54,6%; tỷ lệ suy giảm testosterone thực sự chiếm 32,8%. Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,05) giữa tình trạng mãn dục với các yếu tố: béo phì (BMI ≥ 25 kg/m<sup>2</sup>), vòng bụng lớn ≥ 90 cm, có bệnh lý nền.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ mãn dục nam ở đối tượng nghiên cứu là khá cao và có mối liên quan chặt chẽ với các rối loạn chuyển hóa và bệnh nền. Việc sàng lọc sớm và quản lý các yếu tố nguy cơ chuyển hóa đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe cho nam giới.</p> Lê Đức Phúc, Nguyễn Tuấn Đạt, Nguyễn Văn Phúc, Phan Lê Nhật Long, Phạm Đức Mạnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5795 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 RỐI LOẠN CƯƠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN SAU CẮT BÀNG QUANG TẬN GỐC https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5796 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tình trạng rối loạn cương và phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân sau cắt bàng quang tận gốc điều trị ung thư bàng quang.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu theo dõi dọc tiến cứu trên 117 bệnh nhân nam tại Bệnh viện Bình Dân (11/2020-11/2024). Chức năng cương được đánh giá bằng thang điểm IIEF-5 trước phẫu thuật và tại 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng sau mổ.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Các bệnh nhân có tuổi trung bình 60,1 ± 9,6 tuổi. Điểm IIEF-5 trước mổ là 17,14 điểm; 32,5% bệnh nhân không có rối loạn cương. Sau phẫu thuật, điểm IIEF-5 giảm còn 6,0; 6,5 và 11,35 điểm tại 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng. Tại 3 tháng, 100% bệnh nhân có rối loạn cương mức nặng; sau 12 tháng không có bệnh nhân nào hồi phục hoàn toàn. Điểm IIEF-5 trước mổ là yếu tố dự báo độc lập duy nhất (β = 0,32; KTC 95%: 0,23-0,41; p &lt; 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Rối loạn cương là biến chứng thường gặp sau cắt bàng quang tận gốc, suy giảm rõ và hồi phục hạn chế sau 12 tháng. Đánh giá chức năng tình dục trước mổ, bảo tồn thần kinh cương khi phù hợp và phục hồi chức năng cương sau mổ cần được tích hợp trong chăm sóc lâu dài.</p> Phạm Hữu Đoàn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5796 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG TÌNH DỤC Ở PHỤ NỮ MÃN KINH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2023 THEO THANG ĐIỂM CSFQ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5797 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá chức năng tình dục ở phụ nữ mãn kinh tại thành phố Đà Nẵng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chức năng tình dục.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 850 phụ nữ đã mãn kinh tự nhiên được phỏng vấn và thăm khám tại 17 trạm y tế thuộc 17 phường/xã của thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ tháng 8-10 năm 2023. Nghiên cứu được tiến hành thông qua phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi CSFQ 14 câu hỏi nhằm đánh giá chức năng tình dục ở phụ nữ mãn kinh và tìm hiểu một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Kết quả và kết luận:</strong> Chức năng tình dục bình thường chiếm 4,4%, chức năng tình dục giảm chiếm 95,6%, không có đối tượng nào có chức năng tình dục cao. Có mối liên quan giữa chức năng tình dục với nghề nghiệp hiện nay, thời gian mãn kinh, bốc hỏa, tiểu đêm, triệu chứng cơ xương khớp, âm đạo hẹp, âm đạo khô.</p> Nguyễn Đình Phương Thảo, Lê Thị Thúy, Hoàng Hữu Khôi Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5797 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI LÂM SÀNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ TRÍ RỐI LOẠN TÌNH DỤC Ở PHỤ NỮ TIỀN MÃN KINH, MÃN KINH: BÁO CÁO LOẠT CA BỆNH https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5798 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Tìm hiểu đặc điểm hình thái lâm sàng và phương pháp xử trí rối loạn chức năng tình dục ở phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Từ tháng 7/2024 đến 4/2026, tại Trung tâm Y học Giới tính Hà Nội có 25 trường hợp rối loạn tình dục ở phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh được ghi nhận. Tất cả được khai thác triệu chứng mãn kinh, đặc điểm hoạt động và hình thái rối loạn tình dục, sàng lọc đánh giá các thang điểm mãn kinh (MRS), giảm ham muốn tình dục (DSDS), chỉ số chức năng tình dục nữ (FSFI), ảnh hưởng tâm lý (FSDS-R), cũng như ghi nhận phương pháp điều trị.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Các đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 47,5 ± 6,1. Đa số (52%) cảm thấy “rất không hài lòng” hoặc “tương đối không hài lòng” về đời sống tình dục. Rối loạn gặp nhiều nhất là giảm ham muốn (96%), tiếp theo là đau khi quan hệ (68%). Thời gian mắc trung bình là 2,4 năm và 76% bệnh nhân có từ 2 rối loạn trở nên. Điểm MRS trung bình là 16,56 ± 6,27, trong đó mức độ nặng (32%) và rất nặng (56%). Điểm trung bình FSFI là 19,22; và 64% đã ảnh hưởng tâm lý do rối loạn tình dục khi sàng lọc qua thang FSDS-R.</p> <p>Phương pháp điều trị dược lý và giáo dục tư vấn được sử dụng ở tất cả các bệnh nhân, trong đó liệu pháp hormon được sử dụng ở 22 trường hợp, gel bôi trơn và kem dưỡng ẩm lần lượt ở 11 và 15 ca, vật lý trị liệu sàn chậu ở 6 bệnh nhân, liệu pháp tâm định 5 trường hợp.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Rối loạn chức năng tình dục ở phụ nữ mãn kinh diễn biến phức tạp, kéo dài và thường kết hợp nhiều triệu chứng (điển hình là giảm ham muốn và đau), gây ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý và chất lượng sống. Do đó, chiến lược điều trị bắt buộc phải tiếp cận đa mô thức: lấy giáo dục tư vấn làm nền tảng, kết hợp cá thể hóa với liệu pháp nội tiết tố, trị liệu tại chỗ và hỗ trợ vật lý/tâm lý để giải quyết toàn diện vấn đề của người bệnh.</p> Phạm Minh Ngọc, Nguyễn Anh Tú, Nguyễn Trọng Hoàng Hiệp, Hồ Hữu Phúc, Nguyễn Quốc Linh, Lê Thị Phương Ánh, Vũ Đức Vượng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5798 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI NẠO HẠCH BẸN BẢO TỒN TĨNH MẠCH HIỂN LỚN TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DƯƠNG VẬT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5799 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tính an toàn, hiệu quả ung thư học và khả năng giảm thiểu biến chứng của kỹ thuật phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn bảo tồn tĩnh mạch hiển lớn hoàn toàn ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy dương vật.</p> <p><strong>Phương pháp</strong><strong>:</strong> Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh tiến hành trên 38 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn bảo tồn tĩnh mạch hiển lớn hoàn toàn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 3/2022 đến tháng 3/2025. Các tiêu chí đánh giá bao gồm: đặc điểm chu phẫu; biến chứng hậu phẫu (dựa trên phân loại Clavien-Dindo); xác suất sống thêm không bệnh; xác suất sống không tái phát tại vùng bẹn. Phân tích sống còn được phân tích bằng phương pháp Kaplan-Meier và kiểm định log-rank.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 52,9 ± 11,1 tuổi. Thời gian phẫu thuật chung trung bình là 136,1 ± 35,1 phút. Số lượng hạch bẹn nạo được trung bình đạt 16,9 ± 5,6 hạch. Giảm thiểu biến chứng vạt da với tỉ lệ nhiễm trùng và hoại tử da là 0%. Tỷ lệ biến chứng chung là 18,4% trong đó tỷ lệ tụ dịch sau mổ là 7,9%. Với thời gian theo dõi trung vị đạt 29,5 tháng, xác suất sống thêm không bệnh và sống không tái phát tại vùng bẹn sau 2 năm lần lượt đạt 89% và 97%. Phân tích tương quan tại điểm cắt 12 hạch cho thấy không có sự khác biệt về xác suất sống thêm không bệnh (p = 0,362) và sống không tái phát tại vùng bẹn (p = 0,637) giữa nhóm nạo vét được &lt; 12 hạch và ≥ 12 hạch trong thời điểm theo dõi.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn bảo tồn tĩnh mạch hiển là một phương pháp an toàn, khả thi và mang lại hiệu quả ung thư học tối ưu. Kỹ thuật này có thể giúp loại bỏ tình trạng hoại tử vết mổ, giảm thiểu đáng kể tỷ lệ phù bạch huyết chi dưới, đồng thời đảm bảo số lượng hạch nạo chuẩn và duy trì kiểm soát bệnh tại chỗ lâu dài.</p> Lại Hoàng Lâm, Nguyễn Hữu Thảo, Nguyễn Quang, Nguyễn Tiến Dũng, Lưu Quang Long, Lê Văn Long, Cao Đắc Tuấn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5799 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VI PHẪU THẮT TĨNH MẠCH TINH GIÃN TRÊN BỆNH NHÂN VÔ SINH TẠI BỆNH VIỆN 19-8, BỘ CÔNG AN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5800 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh giãn trong điều trị vô sinh nam giới.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu có theo dõi thực hiện trên 55 bệnh nhân vô sinh có giãn tĩnh mạch tinh, được điều trị bằng vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh giãn tại Khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện 19-8, Bộ Công an trong thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 12/2025. Bệnh nhân được tái khám sau mổ 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, được làm tinh dịch đồ và xét nghiệm nội tiết tố để đánh giá.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 29,09 ± 2,72 tuổi. Tỉ lệ vô sinh nguyên phát chiếm tỉ lệ 83,6% và thứ phát chiếm 16,4%. Hầu hết các triệu chứng lâm sàng đều có sự cải thiện sau mổ. Các chỉ số mật độ tinh trùng, độ di động tiến tới của tinh trùng và hình thái tinh trùng đều có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,05). Chỉ số testosterone sau mổ tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm có suy sinh dục. Tỷ lệ có thai sau mổ đạt 54,6% trong đó có thai tự nhiên là 43,6%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh giãn là một phương pháp có hiệu quả cao trong điều trị bệnh lý giãn tĩnh mạch tinh, đặc biệt trên nhóm bệnh nhân vô sinh nam, giúp cải thiện các chỉ số tinh dịch đồ và làm tăng tỷ lệ có thai sau mổ.</p> Nguyễn Trần Thành, Nguyễn Quang, Trần Hoài Nam Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5800 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 HAI TRƯỜNG HỢP NỘI SOI Ổ BỤNG CẮT NANG TÚI TINH CHẢY MÁU TRONG HỘI CHỨNG ZINNER HIẾM GẶP TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 VÀ BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5801 <p>&nbsp;</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt nang túi tinh chảy máu và điểm lại y văn về hội chứng Zinner hiếm gặp.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu 2 bệnh nhân nang túi tinh chảy máu được phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Bệnh nhân số 1 là nam giới, 16 tuổi, nang túi tinh trái kích thước 60 × 40 mm, thận trái bất sản, chỉ có thận phải duy nhất. Thời gian phẫu thuật 90 phút. Sử dụng 4 trocar (3 trocar 10 mm và 1 trocar 5 mm). Không có biến chứng trong mổ. Số lượng mất máu dưới 50 ml. Thời gian nằm viện 5 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh: nang túi tinh viêm mô đệm xơ hóa mạn tính.</p> <p>Bệnh nhân số 2 là nam giới, 24 tuổi, nang túi tinh phải kích thước 70 × 35 mm, thận phải bất sản, chỉ có thận trái duy nhất. Thời gian phẫu thuật 95 phút. Sử dụng 4 trocar (2 trocar 10 mm và 2 trocar 5 mm). Không có biến chứng trong mổ. Số lượng máu mất không đáng kể. Thời gian nằm viện 5 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh: nang túi tinh lành tính xơ hóa lớp mô liên kết.</p> <p>Sau mổ 6 tháng, 2 bệnh nhân kiểm tra xuất tinh không có máu trong tinh dịch nhưng tinh dịch đồ giảm số lượng và chất lượng tinh trùng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nang túi tinh là bệnh lý hiếm gặp, thường nằm trong hội chứng Zinner. Nang túi tinh có kích thước lớn hơn 5 cm gây biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Hội chứng Zinner ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bệnh nhân.</p> Trịnh Hoàng Giang, Nguyễn Tuấn Đạt, Nguyễn Văn Phúc, Bùi Văn Quang, Phan Lê Nhật Long, Phạm Đức Mạnh, Nghiêm Trung Dũng, Lê Đức Phúc, Phạm Thị Thu Trang, Nguyễn Đăng Kiên Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5801 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT SỰ HÀI LÒNG VỀ HÌNH THÁI DƯƠNG VẬT VÀ CHỨC NĂNG TÌNH DỤC CỦA NAM GIỚI TRƯỞNG THÀNH SAU PHẪU THUẬT LỖ TIỂU LỆCH THẤP BẰNG VẠT DA NIÊM MẠC BAO QUY ĐẦU CÓ CUỐNG TRỤC NGANG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5802 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả lâu dài về chức năng tiết niệu, tình dục, nhận thức thẩm mỹ và tâm lý sinh sản ở nam giới trưởng thành được phẫu thuật điều trị dị tật lỗ tiểu lệch thấp bằng kỹ thuật sử dụng vạt da-niêm mạc bao quy đầu có cuống trục ngang.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 18 bệnh nhân trưởng thành có tiền sử dị tật lỗ tiểu lệch thấp được tạo hình niệu đạo bằng vạt da bao quy đầu trục ngang. Công cụ đánh giá gồm thang điểm nhận thức về dương vật (PPS), chỉ số quốc tế về chức năng cương dương (IIEF-5).</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ hài lòng chung về hình thái dương vật đạt 88,8% (trong đó 66,6% hài lòng và 22,2% rất hài lòng); chỉ có 11,2% không hài lòng do sẹo xấu co kéo hoặc độ cong tồn dư. Đa số bệnh nhân có chức năng cương dương bình thường, chỉ 1 trường hợp (5,6%) bị rối loạn cương dương mức độ vừa.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật tạo hình niệu đạo bằng vạt da bao quy đầu trục ngang mang lại kết quả dài hạn khả quan và ổn định về cả chức năng tiết niệu lẫn tình dục ở hầu hết bệnh nhân. Sự thành công toàn diện của phẫu thuật cần được đánh giá dựa trên cả phục hồi giải phẫu lẫn chất lượng cuộc sống do chính người bệnh tự cảm nhận. Cần có những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để có đánh giá khách quan nhất.</p> Châu Văn Việt, Nguyễn Thị Phương Thảo Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5802 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẤY GHÉP THỂ HANG NHÂN TẠO ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN CƯƠNG DƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5803 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả phẫu thuật cấy ghép thể hang nhân tạo (IPP) qua 3 yếu tố: hiệu quả phẫu thuật, tỷ lệ biến chứng và sự hài lòng của người bệnh cùng bạn tình.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Tiến cứu mô tả loạt trường hợp trên 30 người bệnh được phẫu thuật cấy ghép đặt mới IPP điều trị rối loạn cương tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 7/2019 đến tháng 3/2026. Đánh giá sự hài lòng qua bộ câu hỏi QoLSPP.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của người bệnh là 56,63 ± 13,36. 100% thiết bị hoạt động tốt, thời gian mổ trung bình 87,33 phút. Không có tai biến trong mổ; tỷ lệ biến chứng sau mổ là 3 trường hợp (10%) gồm 1 ca chảy máu và 2 ca sốt hậu phẫu, tất cả điều trị nội khoa ổn định. 100% người bệnh và bạn tình hài lòng với sự cải thiện chức năng tình dục trong thời gian theo dõi từ 2-79 tháng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Cấy ghép IPP là phương pháp điều trị rối loạn cương an toàn, hiệu quả, kiểm soát biến chứng tốt và mang lại sự hài lòng tuyệt đối cho người bệnh và bạn tình.</p> Trương Hoàng Minh, Trần Lê Duy Anh, Trần Thanh Phong, Ngô Trí Thành, Ngô Quang Trung, Nguyễn Thanh Quang, Lê Vương Tuấn Kiệt, Tô Thanh Phát, Trương Hoàng Hải Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5803 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT MICRO TESE Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG KLINEFELTER TẠI BỆNH VIỆN NAM HỌC VÀ HIẾM MUỘN HÀ NỘI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5804 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả phẫu thuật Micro TESE ở bệnh nhân hội chứng Klinefelter tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 43 bệnh nhân hội chứng Klinefelter được phẫu thuật Micro TESE tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội từ 1/1/2024 đến 30/8/2025. Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả tìm tinh trùng, kết quả IVF/ICSI và biến chứng sau phẫu thuật được thu thập và phân tích.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 32,0 ± 4,84 tuổi. Tỷ lệ tìm thấy tinh trùng bằng Micro TESE đạt 55,8% (24/43 trường hợp). Trong số các trường hợp thực hiện IVF/ICSI, tỷ lệ thai dương tính 70,6% và tỷ lệ sinh sống 58,8%. Các biến chứng sau mổ gồm buồn nôn, đau vết mổ và tụ máu bìu, không ghi nhận biến chứng nặng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Micro TESE kết hợp IVF/ICSI là phương pháp hiệu quả và an toàn ở bệnh nhân hội chứng Klinefelter, giúp cải thiện khả năng có con cho nhóm bệnh nhân này.</p> Nguyễn Trọng Hoàng Hiệp, Nguyễn Trọng Hoàng Hiệp, Nguyễn Quang, Nguyễn Anh Tú, Phạm Minh Ngọc, Đinh Hữu Việt, Hồ Hữu Phúc, Nguyễn Thị Huyền Trang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5804 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI NẠO HẠCH BẸN TRONG UNG THƯ DƯƠNG VẬT: KINH NGHIỆM TỪ BỆNH VIỆN BÌNH DÂN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5805 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm bệnh học và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn (VEIL) trong điều trị ung thư dương vật tại Bệnh viện Bình Dân.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca, thực hiện từ tháng 5/2023 đến tháng 6/2025 tại Bệnh viện Bình Dân, gồm 38 bệnh nhân ung thư dương vật được phẫu thuật VEIL hai bên. Các biến số gồm đặc điểm bệnh học, kết quả phẫu thuật, biến chứng (phân loại Clavien-Dindo) và kết quả ung thư học.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,6 ± 10,9 (32-73 tuổi). Đa số bệnh nhân ở giai đoạn pT3 (60,5%) và cN2 (71,1%); phân độ mô học G1 chiếm đa số (60,5%). Toàn bộ 38 ca (100%) hoàn thành VEIL hai bên thành công, không chuyển mổ mở. Thời gian phẫu thuật tổng trung bình 189,5 ± 23,2 phút (120-240 phút). Tĩnh mạch hiển lớn bảo tồn ở 97,4% mỗi bên. Số hạch lấy được trung bình 16,0 ± 2,3 hạch (13-23 hạch)/bệnh nhân. Phân giai đoạn hạch sau mổ: pN0 = 78,9%; pN1 = 13,2%; pN2 = 7,9%; xâm lấn vỏ hạch ghi nhận 1 trường hợp (2,6%). Tỷ lệ tụ dịch bạch huyết 21,1%. Nhiễm trùng vết mổ 5,3%. Không ghi nhận hoại tử da hay huyết khối tĩnh mạch sâu. Thời gian nằm viện trung bình 5,6 ± 2,3 ngày. Tỷ lệ tái phát 13,2%; gồm thời gian sống không bệnh trung bình 26,2 ± 13,0 tháng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>VEIL là kỹ thuật nạo hạch bẹn khả thi, an toàn và có hiệu quả ung thư học phù hợp trong điều trị ung thư dương vật, với tỷ lệ biến chứng nặng thấp và đảm bảo tiêu chuẩn số hạch lấy được.</p> Trần Đoàn Thiên Quốc, Mai Bá Tiến Dũng, Nguyễn Công Minh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5805 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM DI CĂN HẠCH BẸN VÀ KẾT QUẢ SỐNG CÒN SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI NẠO HẠCH BẸN TRONG UNG THƯ DƯƠNG VẬT https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5806 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm di căn hạch bẹn và đánh giá kết quả sống còn sau phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn (VEIL) ở bệnh nhân ung thư dương vật, đồng thời phân tích các yếu tố liên quan đến di căn hạch.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca trên 38 bệnh nhân ung thư dương vật được VEIL hai bên tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 5/2023 đến tháng 6/2025. Phân tích đặc điểm di căn hạch (pN, extranodal extension), yếu tố tiên đoán pN dương tính bằng kiểm định Fisher’s exact, và kết quả sống còn (thời gian sống không bệnh, thời gian sống toàn bộ).</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ pN (+) là 21,1% (8/38 bệnh nhân): pN1 = 13,2% (n = 5), pN2 = 7,9% (n = 3). Không có trường hợp pN3. Xâm lấn ngoài vỏ hạch ghi nhận ở 1/8 bệnh nhân (12,5%) pN (+). Số hạch lấy được trung bình 15,9 ± 2,3 hạch (13-23 hạch)/bệnh nhân. Chọc hút tế bào hạch bẹn dương tính có giá trị tiên đoán dương tính 100%; lưu ý chọc hút tế bào hạch bẹn về bản chất là xét nghiệm xác nhận tế bào học, không phải biến tiên đoán độc lập. Xâm lấn mạch bạch huyết, xâm lấn quanh thần kinh và phân độ G2/G3 cho thấy xu hướng liên quan pN (+) nhưng không đạt ý nghĩa thống kê (p &gt; 0,05). Tính đến ngày khóa dữ liệu 30/6/2026, thời gian theo dõi trung vị 32,5 tháng (1,3-47 tháng); thời gian sống không bệnh trung bình 25,6 tháng; tỷ lệ tái phát 15,8%. Xu hướng thời gian sống không bệnh nhóm pN0 (27,2 tháng) cao hơn nhóm pN (+) (19,4 tháng). Tổng cộng 10,5% bệnh nhân được điều trị hóa chất bổ trợ.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>VEIL giúp phân giai đoạn hạch chính xác với tỷ lệ pN (+) 21,1%. Chọc hút tế bào hạch bẹn dương tính là yếu tố xác nhận di căn hạch có giá trị nhất. Kết quả sống còn phù hợp với thời gian sống không bệnh trung bình 25,6 tháng. Trong các yếu tố lâm sàng-mô học khảo sát, xâm lấn mạch bạch huyết, xâm lấn quanh thần kinh và phân độ G2/G3 có xu hướng liên quan pN (+) nhưng không đạt ý nghĩa thống kê.</p> Trần Đoàn Thiên Quốc, Mai Bá Tiến Dũng, Nguyễn Công Minh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5806 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 BIẾN CHỨNG HẬU PHẪU VÀ PHÙ BẠCH HUYẾT CHI DƯỚI SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI NẠO HẠCH BẸN TRONG UNG THƯ DƯƠNG VẬT https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5807 <p><strong>Mục tiêu: </strong>(1) Mô tả và phân tầng biến chứng hậu phẫu theo Clavien-Dindo, phân biệt lymphocele cận lâm sàng với lymphocele có triệu chứng; (2) Đánh giá phù bạch huyết chi dưới tại 3 tháng và 12 tháng sau mổ; (3) Phân tích mối liên quan giữa phù bạch huyết và pN.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca trên 38 bệnh nhân ung thư dương vật được VEIL hai bên tại Bệnh viện Bình Dân. Biến chứng phân loại theo Clavien-Dindo; lymphocele phân tầng thành thể cận lâm sàng (siêu âm hệ thống, không triệu chứng) và thể có triệu chứng (cần can thiệp y tế). Phù bạch huyết đánh giá tại 3 tháng và 12 tháng sau mổ; mối liên quan với pN phân tích bằng kiểm định Fisher’s exact.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Toàn bộ 38 ca VEIL đã được thực hiện. Thời gian phẫu thuật trung bình 158,1 ± 25,6 phút; lượng máu mất ước tính 82,5 ± 34,1 mL. Tĩnh mạch hiển lớn được bảo tồn 100% ở cả hai bên. Tổng tỷ lệ phát hiện lymphocele qua siêu âm hệ thống là 92,1% (35/38 bệnh nhân), trong đó lymphocele cận lâm sàng chiếm 71,1% (27/38 bệnh nhân) và lymphocele có triệu chứng là 21,1% (8/38 bệnh nhân). Nhiễm trùng vết mổ 5,2%; không ghi nhận hoại tử da hay huyết khối tĩnh mạch sâu. Phân loại Clavien-Dindo: grade 0: 7,9%; grade I: 71,1%; grade II: 18,4%; grade IIIa: 2,6%. Phù bạch huyết tự than phiền ghi nhận ở 10,5% bệnh nhân tại thời điểm 12 tháng; tỷ lệ này cao hơn có ý nghĩa ở nhóm pN dương tính so với pN0 (37,5% so với 3,3%, p = 0,035).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>VEIL là phẫu thuật an toàn với tỷ lệ biến chứng nặng rất thấp (grade ≥ III: 2,6%), không ghi nhận hoại tử da hay huyết khối tĩnh mạch sâu. Tỷ lệ lymphocele có triệu chứng (21,1%) phù hợp với y văn quốc tế (15-40%). Phù bạch huyết được kiểm soát tốt ở mức 10,5% nhờ nỗ lực bảo tồn tĩnh mạch hiển lớn và có mối liên quan rõ rệt với tình trạng di căn hạch (pN dương tính).</p> Trần Đoàn Thiên Quốc, Mai Bá Tiến Dũng, Nguyễn Công Minh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5807 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VI PHẪU THUẬT GIÃN TĨNH MẠCH TINH QUA HÌNH ẢNH SIÊU ÂM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2016-2024 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5808 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh trong điều trị giãn tĩnh mạch tinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2016-2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 746 bệnh nhân được chẩn đoán giãn tĩnh mạch tinh và điều trị bằng vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2016-2024. Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị được thu thập từ hồ sơ bệnh án và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 27,21 ± 8,43 tuổi (10-61 tuổi). Giãn tĩnh mạch tinh bên trái chiếm 76,2% trường hợp. Trong số các bệnh nhân nghiên cứu, giãn độ III chiếm tỷ lệ cao nhất (74,9%), và 78% có dòng trào ngược tĩnh mạch tinh trên siêu âm Doppler. Đường kính trung bình tĩnh mạch tinh trước phẫu thuật là 2,70 ± 0,63 mm khi nghỉ và 3,28 ± 0,67 mm sau nghiệm pháp Valsalva; sau phẫu thuật 1 tháng, các chỉ số này giảm tương ứng còn 2,25 ± 0,64 mm và 2,49 ± 0,62 mm. Sự thay đổi kích thước tĩnh mạch tinh trước và sau phẫu thuật khác biệt có ý nghĩa thống kê với p &lt; 0,05. Tỷ lệ kết quả điều trị tốt đạt 95,6%, kết quả trung bình chiếm 4,4%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn đối với giãn tĩnh mạch tinh. Sau phẫu thuật, đường kính tĩnh mạch tinh giảm rõ rệt trên siêu âm Doppler, với tỷ lệ thành công cao (95,6%), khẳng định vai trò của vi phẫu thuật trong điều trị bệnh lý này.</p> Nguyễn Quang, Lưu Quang Long, Nguyễn Thành Phú, Nguyễn Hữu Thảo, Bùi Văn Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5808 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NỘI SOI TÚI TINH QUA ĐƯỜNG NIỆU ĐẠO ĐIỀU TRỊ XUẤT TINH MÁU DAI DẲNG TẠI TRUNG TÂM NAM HỌC, BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5809 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, xác định tỷ lệ nguyên nhân gây xuất tinh máu dai dẳng được chẩn đoán bằng nội soi túi tinh qua niệu đạo, đánh giá kết quả điều trị và báo cáo tai biến, biến chứng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Phân tích hồi cứu 13 bệnh nhân nam xuất tinh máu dai dẳng (≥ 3 tháng) được thực hiện nội soi túi tinh qua niệu đạo tại Trung tâm Nam học, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung vị 34 (18-53) tuổi. Nguyên nhân chính trước phẫu thuật: viêm túi tinh/ống dẫn tinh (46,2%), sỏi túi tinh/ống phóng tinh (30,8%), giãn tĩnh mạch tinh (15,4%). Nội soi giúp xác định thêm nguyên nhân ở các trường hợp chưa rõ chẩn đoán trước mổ. Tất cả bệnh nhân được can thiệp triệt để trong cùng buổi (tán sỏi, bơm rửa, đốt tĩnh mạch). Thời gian phẫu thuật trung vị 45 phút, thời gian nằm viện trung vị 5 ngày (3-9 ngày). Không ghi nhận tai biến hay biến chứng trong và sau mổ; 100% bệnh nhân hết xuất tinh máu sau can thiệp.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nội soi túi tinh qua niệu đạo là phương pháp an toàn, hiệu quả, cho phép chẩn đoán chính xác và điều trị xuất tinh máu dai dẳng trong một lần can thiệp.</p> Lưu Quang Long, Nguyễn Lan Anh, Trần Diệp Quỳnh, Nguyễn Hoàng Vi Thảo, Lê Công Minh, Nguyễn Hữu Thảo, Nguyễn Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5809 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KINH NGHIỆM BAN ĐẦU NỘI SOI HOÀN TOÀN TẠO HÌNH ÂM ĐẠO BẰNG ĐẠI TRÀNG SIGMOID TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5810 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Trình bày kinh nghiệm bước đầu nội soi ổ bụng hoàn toàn tạo hình âm đạo bằng đại tràng Sigmoid kết hợp tạo hình âm vật và niệu đạo trong cùng 1 thì.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu 1 bệnh nhân được tạo hình âm đạo bằng đại tràng Sigmoid nội soi ổ bụng hoàn toàn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Bệnh nhân nữ, 25 tuổi, NST 46XX, không có âm đạo. Nội soi ổ bụng hoàn toàn tạo hình âm đạo bằng đại tràng Sigmoid. Phẫu thuật được thực hiện thông qua đường tiếp cận đồng thời vùng bụng và tầng sinh môn. Bệnh nhân được cắt bỏ âm vật phì đại và tạo hình lại âm vật, đồng thời tạo hình một đoạn niệu đạo khoảng 5 cm bằng vạt da niêm mạc âm vật để đưa lỗ niệu đạo ở vùng tầng sinh môn lên sát âm vật. Nội soi ổ bụng để tạo ống âm đạo khoảng 15-17 cm đưa ra ngoài. Miệng nối đường tiêu hóa được lập lại bằng máy nối. Không có biến chứng trong mổ, số lượng mất máu khoảng 500 ml, thời gian mổ 7 giờ, thời gian nằm viện 21 ngày. Sau mổ, tiến hành nong âm đạo ngay từ ngày thứ 1.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Kinh nghiệm ban đầu cho thấy việc tạo hình âm đạo bằng đại tràng Sigmoid kết hợp tạo hình âm vật và niệu đạo trong cùng 1 thì là khả thi và hiệu quả. Phẫu thuật đòi hỏi có một đội ngũ tiếp cận và phối kết hợp cùng nhau.</p> Dương Trọng Hiền, Trịnh Hoàng Giang, Phạm Đức Mạnh, Bùi Văn Quang, Vương Thị Hoa, Nguyễn Quang Hiếu, Phạm Thị Thu Trang, Nguyễn Đăng Kiên Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5810 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VI PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ GIÃN TĨNH MẠCH TINH TẠI BỆNH VIỆN 19-8, BỘ CÔNG AN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5811 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả và tính an toàn của phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh vi phẫu tại Bệnh viện 19-8, Bộ Công an.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh, hồi cứu theo dõi dọc 165 bệnh nhân được phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh vi phẫu tại Khoa Ngoại Tiết niệu, Bệnh viện 19-8 từ tháng 12/2022-12/2025. Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm đặc điểm lâm sàng, siêu âm Doppler, tinh dịch đồ và biến chứng, được đánh giá trước phẫu thuật và sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 27,6 ± 6,8. Triệu chứng đau bìu chiếm 86,1%, tự sờ thấy búi tĩnh mạch giãn là 65,5%. Tỷ lệ phẫu thuật thành công là 96,4%, thất bại 3,6%. Trước phẫu thuật, đường kính tĩnh mạch tinh trung bình là 3,12 ± 0,58 mm, sau 3 tháng giảm còn 1,82 ± 0,49 mm với p &lt; 0,05. Tinh dịch đồ cải thiện rõ rệt sau phẫu thuật, trong đó mật độ tinh trùng tăng từ 28,5 ± 24,7 lên 45,6 ± 31,2 triệu/ml; tổng số tinh trùng tăng từ 102,4 ± 118,6 lên 176,3 ± 150,5 triệu; tỷ lệ di động tiến tới tăng từ 34,2 ± 12,1% lên 41,8 ± 13,4% (p &lt; 0,05). Tỷ lệ biến chứng thấp, chủ yếu nhẹ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh là phương pháp an toàn, hiệu quả trong điều trị giãn tĩnh mạch tinh có chỉ định phẫu thuật.</p> Nguyễn Trần Thành, Nguyễn Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5811 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 HỘI CHỨNG TIỀN KINH NGUYỆT VÀ RỐI LOẠN KINH NGUYỆT Ở NỮ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5812 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ sinh viên mắc hội chứng tiền kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt ở Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên; đánh giá một số yếu tố liên quan đến hội chứng tiền kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt ở đối tượng nghiên cứu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 587 sinh viên nữ từ tháng 1-5 năm 2026. Đối tượng được chọn bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo năm học. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền gồm bảng hỏi đánh giá rối loạn kinh nguyệt theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, bộ công cụ PSST sàng lọc hội chứng tiền kinh nguyệt, thang đo căng thẳng cảm nhận PSS và bộ câu hỏi IPAQ-SF đánh giá hoạt động thể lực.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ rối loạn kinh nguyệt là 84,5%; hội chứng tiền kinh nguyệt là 32,4% và rối loạn khí sắc tiền kinh nguyệt là 3,9%. Phần lớn triệu chứng hội chứng tiền kinh nguyệt ở mức độ nhẹ và vừa; các triệu chứng vừa đến nặng thường gặp là mệt mỏi/thiếu năng lượng (56,6%) và tăng nhu cầu ngủ (58,8%). Tỷ lệ hội chứng tiền kinh nguyệt cao hơn rõ rệt ở nhóm có mức độ căng thẳng cao (71,4%) so với nhóm trung bình (30,3%) và thấp (8,7%) (p &lt; 0,001). Các yếu tố khác như tuổi, dân tộc, BMI, tuổi bắt đầu có kinh và mức độ hoạt động thể lực không có mối liên quan (p &gt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ rối loạn kinh nguyệt và hội chứng tiền kinh nguyệt ở sinh viên nữ còn cao. Mức độ căng thẳng là yếu tố liên quan rõ rệt đến hội chứng tiền kinh nguyệt. Cần tăng cường các biện pháp quản lý căng thẳng, tư vấn tâm lý và giáo dục sức khỏe sinh sản nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho nữ sinh viên.</p> Nguyễn Thị Hiệp Tuyết, Phạm Thị Thoa, Nguyễn Ngọc Minh, Lê Huy Hoàng, Bùi Hải Nam, Nguyễn Thúy Hà Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5812 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 TỶ LỆ NHIỄM MYCOPLASMA SINH DỤC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ VÔ SINH NGUYÊN PHÁT https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5813 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát tỷ lệ nhiễm <em>Mycoplasma</em> sinh dục ở phụ nữ vô sinh nguyên phát và một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 78 phụ nữ được chẩn đoán vô sinh nguyên phát tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Đối tượng nghiên cứu được thực hiện các xét nghiệm tìm tác nhân bệnh lây qua đường tình dục, bao gồm <em>Mycoplasma</em> sinh dục.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhiễm <em>Mycoplasma</em> sinh dục ở phụ nữ vô sinh nguyên phát là 41% (KTC 95%: 29,9-52,2%), trong đó nhiễm <em>Ureaplasma parvum</em> (32,1%), <em>Ureaplasma urelyticum</em> (3,8%), đồng nhiễm <em>Ureaplasma parvum</em> và <em>Ureaplasma urelyticum</em> (5,1%), không có trường hợp nào nhiễm <em>Mycoplasma homonis</em> hoặc <em>Mycoplasma genitalium</em>. Chưa tìm thấy mối liên quan của một số đặc điểm về tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tiền sử bệnh, đặc điểm kinh nguyệt, đặc điểm quan hệ tình dục với tình trạng nhiễm <em>Mycoplasma</em> sinh dục. Tuy nhiên, phụ nữ có tiền sử điều trị vô sinh nguy cơ nhiễm <em>Mycoplasma</em> sinh dục cao hơn so với nhóm không có tiền sử này với ORadj = 5,67 (KTC 95%: 1,50-21,45; p = 0,010), được hiệu chỉnh theo yếu tố tuổi, học vấn và nghề nghiệp.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nhiễm <em>Mycoplasma</em> sinh dục là vấn đề đáng quan tâm ở phụ nữ vô sinh, trong đó <em>Ureplasma parvum</em> là tác nhân phổ biến nhất. Tầm soát và quản lý tác nhân nhiễm khuẩn ở phụ nữ vô sinh nguyên phát cần chú ý đến yếu tố tiền sử điều trị vô sinh.</p> Võ Văn Chính, Trần Thị Như Quỳnh, Lê Đình Dương, Lê Minh Tâm Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5813 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC TINH HOÀN SAU DÙNG BÀI THUỐC HÓA ĐÀM SINH TINH THANG TRÊN THỰC NGHIỆM https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5814 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm cấu trúc vi thể mô tinh hoàn sau khi dùng bài thuốc Hóa đàm sinh tinh thang trên thực nghiệm.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Chuột cống trắng đực được gây suy giảm chức năng tinh hoàn, sau đó cho uống thuốc thử nghiệm. Mẫu tinh hoàn chuột sau khi dùng thuốc được quan sát đại thể và dưới kính hiển vi quang học để mô tả các chỉ tiêu: trọng lượng tinh hoàn, đường kính ống sinh tinh, chiều dày biểu mô tinh, điểm Johnsen, số lượng các tế bào biểu mô tinh và mô kẽ tinh hoàn.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Đường kính ống sinh tinh, chiều cao biểu mô tinh, điểm Johnsen ở 2 lô trị liệu tăng có ý nghĩa so với lô 1 và lô 2 (p &lt; 0,05). Số lượng tế bào biểu mô tinh ở lô dùng liều 45 g/kg/ngày tăng so với lô gây suy giảm chức năng tinh hoàn và lô dùng nước cất, đặc biệt là tinh tử (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bài thuốc Hóa đàm sinh tinh thang có tác dụng bảo vệ và phục hồi tổn thương mô tinh hoàn, thúc đẩy quá trình sinh tinh và góp phần cải thiện chức năng sinh sản trên mô hình thực nghiệm bị gây suy sinh dục, đặc biệt khi dùng liều 45 g/kg/ngày.</p> Quách Thị Yến, Phạm Thị Thúy An, Đoàn Minh Thụy, Nguyễn Huyền Trang, Phạm Thị Dịu, Bùi Thị Quỳnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5814 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM TINH TRÙNG THU ĐƯỢC TỪ DỊCH MÀO TINH SAU DÙNG BÀI THUỐC HÓA ĐÀM SINH TINH THANG TRÊN THỰC NGHIỆM https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5815 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá đặc điểm dịch ống mào tinh của chuột cống trắng sau dùng bài thuốc Hóa đàm sinh tinh thang.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Gây suy giảm chức năng sinh sản 32 chuột cống trắng chủng Wistar bằng Natri valproat liều 500 mg/kg/ngày trong 7 tuần, sau đó chia ngẫu nhiên chuột thành 4 lô, mỗi lô 8 con. Lô 1 tiến hành mổ lấy dịch mào tinh đánh giá tinh trùng nhằm chứng minh sự thành công mô hình gây suy tinh hoàn; 3 lô còn lại tiếp tục nghiên cứu trong 5 tuần, cụ thể: lô 2 uống nước cất; lô 3 uống thuốc nghiên cứu liều 15 g/kg/ngày, lô 4 uống thuốc nghiên cứu liều 45 g/kg/ngày. Các chỉ tiêu nghiên cứu: trọng lượng mào tinh, mật độ, di động, tỷ lệ sống/chết, hình thái tinh trùng thu được từ dịch mào tinh.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Sau 5 tuần điều trị, mật độ tinh trùng ở lô 3 và lô 4 đạt lần lượt 91,63 ± 7,62 × 10<sup>6</sup>/mL và 104,88 ± 12,91 × 10<sup>6</sup>/mL, cao hơn rõ rệt so với lô 2 có mật độ tinh trùng 62,38 ± 13,50 × 10<sup>6</sup>/mL (p &lt; 0,05). Tỷ lệ tinh trùng sống tăng từ 60,75 ± 10,67% ở lô 2 lên 71,50 ± 7,8% ở lô 3 &nbsp;(p &lt; 0,05) và 76,38 ± 7,23% (p &lt; 0,01) ở lô 4; đồng thời tỷ lệ tinh trùng di động tăng từ 41,38 ± 6,16% lên 53,50 ± 6,80% và 62,25 ± 8,48% (p &lt; 0,01). Bài thuốc cũng làm tăng tỷ lệ tinh trùng có hình thái bình thường từ 56,37 ± 6,95% lên 66,12 ± 4,08% và 69,75 ± 4,74% (p &lt; 0,05) ở hai lô trị 3 và 4 tương ứng, đồng thời làm giảm các dạng bất thường hình thái tinh trùng. Hiệu quả cải thiện rõ nhất được ghi nhận ở mật độ và khả năng di động của tinh trùng, với xu hướng tốt hơn ở lô điều trị liều 45 g/kg/ngày.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Bài thuốc có tác dụng cải thiện chất lượng tinh trùng trên mô hình gây suy giảm chức năng sinh sản do Natri valproat, thể hiện qua sự gia tăng mật độ, tỷ lệ sống, khả năng di động và tỷ lệ tinh trùng có hình thái bình thường. Hiệu quả nổi bật nhất được ghi nhận ở mật độ và khả năng di động của tinh trùng, trong đó liều 45 g/kg/ngày có tác dụng mạnh hơn.</p> Đào Thúy Hằng, Đoàn Thị Thúy Phượng, Quách Thị Yến, Đoàn Minh Thụy, Nguyễn Huyền Trang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5815 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 TÁC DỤNG BẢO VỆ CHỨC NĂNG TINH HOÀN SAU DÙNG BÀI THUỐC HÓA ĐÀM SINH TINH THANG TRÊN MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5816 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tác dụng bảo vệ chức năng tinh hoàn của bài thuốc Hóa đàm sinh tinh thang trên mô hình thực nghiệm.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>40 chuột cống trắng đực trưởng thành được chia ngẫu nhiên vào 4 lô. Sau đó chuột thử nghiệm được cho uống Natri valproat để gây suy giảm chức năng tinh hoàn, đồng thời uống thuốc nghiên cứu để đánh giá khả năng bảo vệ trong 7 tuần. Các chỉ tiêu đánh giá gồm nồng độ testosteron huyết thanh; trọng lượng tinh hoàn, mào tinh; mật độ, di động, tỷ lệ sống/chết, hình thái tinh trùng thu được từ dịch mào tinh; cấu trúc mô học tinh hoàn.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nồng độ testosteron huyết thanh ở lô mô hình giảm rõ rệt so với lô chứng sinh học (4,20 ± 1,28 nmol/L so với 9,02 ± 2,24 nmol/L; p &lt; 0,01). Các lô dùng phối hợp bài thuốc Hóa đàm sinh tinh thang cho thấy tác dụng bảo vệ chức năng tinh hoàn, thể hiện qua cải thiện testosteron (nhất là lô điều trị liều cao: 10,02 ± 1,03 nmol/L), tăng trọng lượng tinh hoàn và mào tinh, cải thiện mật độ, tỷ lệ sống và khả năng di động của tinh trùng so với lô mô hình. Ở lô điều trị liều cao, mật độ tinh trùng đạt 101,90 ± 12,68 × 10<sup>6</sup>/mL và tỷ lệ sống đạt 85,90 ± 6,05%. Hình thái tinh trùng và cấu trúc mô học tinh hoàn cũng được bảo tồn tốt hơn so với lô mô hình.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bài thuốc Hóa đàm sinh tinh thang với liều 15 g/kg/ngày và 45 g/kg/ngày có hiệu quả bảo vệ chức năng tinh hoàn: làm tăng trọng lượng mào tinh và tinh hoàn, cải thiện cấu trúc mô học tinh hoàn, tăng nồng độ testosteron huyết thanh, cải thiện chất lượng tinh trùng.</p> Trần Diệu Linh, Quách Thị Yến, Đoàn Minh Thụy, Nguyễn Huyền Trang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5816 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 THỰC TRẠNG CHẨN ĐOÁN RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN GIỚI TÍNH TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC: THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5817 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng chẩn đoán rối loạn phát triển giới tính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2015-2025 và phân tích những thuận lợi, khó khăn.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Mô tả cắt ngang, toàn bộ người bệnh rối loạn phát triển giới tính khám tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2015-2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 99/136 người bệnh được chẩn đoán rối loạn phát triển giới tính do các nguyên nhân tăng sản thượng thận bẩm sinh (22 người), thiếu 5α-reductase type 2 (25 người), hội chứng không nhạy cảm androgen (AIS: 24 người), thiểu sản tuyến sinh dục (17 người) và 1 người hội chứng Kallmann, hội chứng Ovotesticular (4 người), hội chứng Mayer Rokitansky Kuster Hauser (3 người), một số ít người bệnh bất sản ống Phalo, còn xoang niệu sinh dục; 37 người bệnh chưa xác định nguyên nhân.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tiên phong trong chẩn đoán rối loạn phát triển giới tính tại Việt Nam với nhiều thể bệnh, tuy nhiên còn một số người bệnh chưa được chẩn đoán nguyên nhân do thiếu kỹ thuật chuyên sâu.</p> Trần Thị Ngọc Anh, Trần Thị Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hoa, Nguyễn Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5817 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ ĐA DẠNG GIỚI VÀ XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5818 <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Đánh giá kiến thức, thái độ về đa dạng giới và xu hướng tính dục của sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan.&nbsp;</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 874 sinh viên y khoa từ năm thứ nhất đến năm thứ năm bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo năm học. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền gồm thông tin chung, 20 câu hỏi đánh giá kiến thức và 15 câu hỏi đánh giá thái độ theo thang Likert.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Điểm kiến thức trung bình về đa dạng giới và xu hướng tính dục đạt 15,3 ± 2,8/20 điểm; 68,2% sinh viên có kiến thức đạt. Điểm thái độ trung bình đạt 52,0 ± 9,3/75 và tỷ lệ có thái độ tích cực đối với cộng đồng LGBT là 32,2%. Đa số sinh viên đồng ý rằng người LGBT cần được chăm sóc y tế bình đẳng và nhân viên y tế có trách nhiệm chăm sóc người LGBT không kỳ thị. Nữ sinh viên có tỷ lệ kiến thức đúng và thái độ tích cực cao hơn nam sinh viên (p &lt; 0,05). Nhóm sinh viên chưa đi lâm sàng có kiến thức và thái độ tích cực cao hơn nhóm đã đi lâm sàng (p &lt; 0,001). Sinh viên có kiến thức đạt có tỷ lệ thái độ tích cực cao hơn đáng kể so với nhóm kiến thức chưa đạt (38,4% so với 18,7%; p &lt; 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Sinh viên y khoa có mức độ kiến thức tương đối tốt về đa dạng giới và xu hướng tính dục, tuy nhiên thái độ tích cực đối với cộng đồng LGBT còn hạn chế. Cần tăng cường lồng ghép nội dung về sức khỏe LGBT và chăm sóc không kỳ thị vào chương trình đào tạo y khoa.</p> Nguyễn Thị Hiệp Tuyết, Lương Phương Linh, Nguyễn Dũng Long, Phùng Nhật Minh, Bùi Hải Nam, Tạ Thị Quỳnh Giao, Nguyễn Thị Kim Tiến Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5818 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 U QUÁI CHƯA TRƯỞNG THÀNH CÓ THÀNH PHẦN U TẾ BÀO MẦM (SEMINOMA) TẠI TÚI TINH Ở NGƯỜI BỆNH NAM GIỚI TRƯỞNG THÀNH: BÁO CÁO CA BỆNH https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5819 <p>U quái (teratoma) là loại u tế bào mầm chứa các thành phần có nguồn gốc từ cả 3 lá phôi. U quái ác tính nguyên phát tại túi tinh là một dạng u ngoài tinh hoàn cực kỳ hiếm gặp, đặc biệt ở nam giới trẻ tuổi. Việc chẩn đoán chính xác và xác định giai đoạn bệnh đóng vai trò quyết định trong chiến lược điều trị đa mô thức và tiên lượng bệnh. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nam giới 31 tuổi nhập viện với tiền sử 2 tháng đau vùng chậu, tiểu khó, cùng các rối loạn bài tiết nước tiểu và phân. Xét nghiệm cận lâm sàng ghi nhận dấu ấn sinh học tăng cao đáng kể: AFP 1440 ng/mL. Kết quả chụp CT ổ bụng cho hình ảnh một khối giảm tỷ trọng không đồng nhất, kích thước 83 × 72 mm tại hố chậu phải, tương ứng vị trí túi tinh phải, gây chèn ép bàng quang và trực tràng. Người bệnh đã phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối u. Quan sát đại thể cho thấy khối u có vỏ bọc, kích thước 8 × 8 × 4 cm, mật độ chắc, bên trong có các khoang nang chứa dịch đục. Kết quả xét nghiệm mô bệnh học xác chẩn u quái chưa trưởng thành kèm thành phần seminoma. Do nồng độ AFP tiếp tục tăng sau mổ (&gt; 1600 ng/mL), bệnh nhân được điều trị bổ trợ bằng phác đồ hóa trị BEP. Sau 2 chu kỳ, các triệu chứng lâm sàng đã thuyên giảm hoàn toàn và nồng độ AFP giảm mạnh xuống còn 159 ng/mL. Ca lâm sàng này cho thấy những thách thức trong chẩn đoán do sai số trong thu thập mẫu khi sinh thiết kim đối với các khối u quái vùng chậu có cấu trúc không đồng nhất. Chỉ định điều trị dựa trên việc kết hợp đánh giá các dấu ấn khối u cùng với phẫu thuật triệt căn và hóa trị bổ trợ là yếu tố then chốt trong quản lý các loại u tế bào mầm ngoài tinh hoàn ác tính hiếm gặp này.</p> Phan Lê Nhật Long, Nguyễn Tuấn Đạt, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Văn Phú Thắng, Lê Đức Phúc, Phạm Đức Mạnh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5819 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU SỬ DỤNG LIỆU PHÁP REZŪM ĐIỀU TRỊ PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5820 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của liệu pháp hóa hơi nước Rezūm qua 3 trường hợp lâm sàng đầu tiên, đồng thời thảo luận vai trò của Rezūm so với nội soi cắt u tuyến tiền liệt qua niệu đạo trong điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt hiện nay.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả 3 trường hợp phì đại lành tính tuyến tiền liệt được điều trị bằng liệu pháp Rezūm, bao gồm tiêu chí lựa chọn bệnh nhân, kỹ thuật thực hiện thủ thuật và các đánh giá trước/sau điều trị: điểm số triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế, thang điểm chất lượng cuộc sống, thể tích nước tiểu tồn dư, thay đổi kích thước tuyến tiền liệt, biến chứng và chức năng tình dục.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sau 3 tháng theo dõi, cả 3 bệnh nhân đều cải thiện rõ rệt: điểm số triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế giảm 77,8-80%, chất lượng cuộc sống cải thiện 80%, thể tích nước tiểu tồn dư giảm đáng kể. Thể tích tuyến tiền liệt sau 3 tháng giảm cả trên siêu âm và cộng hưởng từ. Thời gian lưu ống thông tiểu từ 10-14 ngày. Không ghi nhận biến chứng sau thủ thuật. Chức năng tình dục được bảo tồn ở 2 bệnh nhân, trường hợp còn lại không đánh giá do đã có rối loạn cương dương từ trước.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Rezūm là một lựa chọn điều trị an toàn, hiệu quả và ít xâm lấn cho bệnh nhân có triệu chứng đường tiểu dưới/phì đại lành tính tuyến tiền liệt, với ưu điểm nổi bật là bảo tồn chức năng tình dục và thời gian hồi phục ngắn. Đây có thể là phương pháp thay thế phù hợp cho phẫu thuật nội soi cắt u tuyến tiền liệt qua niệu đạo trong những trường hợp được lựa chọn thích hợp.</p> Nguyễn Đình Liên, Nguyễn Thế Thịnh, Nguyễn Minh Tuấn, Võ Văn Quý Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5820 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN Ở NAM GIỚI VÔ TINH KHÔNG TẮC NGHẼN ĐỒNG THỜI MANG BẤT THƯỜNG DI TRUYỀN ĐƯỢC PHẪU THUẬT MICRO-TESE TẠI BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5821 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tỷ lệ và đặc điểm bất thường di truyền ở nam giới vô tinh không do tắc nghẽn (NOA), đồng thời phân tích kết quả thu tinh trùng và kết quả sinh sản sau mổ vi phẫu tinh hoàn tìm tinh trùng (micro-TESE) tại Bệnh viện Bưu điện.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện trên 309 bệnh nhân được chẩn đoán NOA và điều trị bằng kỹ thuật micro-TESE tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Bưu điện từ tháng 9/2022 đến tháng 9/2024. Trong đó, 90 bệnh nhân có xác định bất thường di truyền và đầy đủ hồ sơ bệnh án được đưa vào phân tích. Các chỉ số được đánh giá bao gồm đặc điểm lâm sàng, kết quả xét nghiệm di truyền, tỷ lệ thu nhận tinh trùng bằng micro-TESE và kết quả sinh sản sau tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ bất thường di truyền ở bệnh nhân NOA là 29,1%. Các bất thường nhiễm sắc thể giới tính chiếm 96,7% trường hợp. Hội chứng Klinefelter là bất thường thường gặp nhất (70%), tiếp theo là vi mất đoạn AZFc trên nhiễm sắc thể Y (22,3%). Tỷ lệ thu nhận tinh trùng chung từ micro-TESE đạt 54,4%. Tỷ lệ thu nhận tinh trùng ở nhóm hội chứng Klinefelter và nhóm vi mất đoạn AZFc lần lượt là 54% và 55%. Trong số các trường hợp thu nhận được tinh trùng thành công, tỷ lệ trẻ sinh sống cộng dồn sau ICSI đạt 61,2%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bất thường di truyền chiếm tỷ lệ cao ở nam giới mắc NOA, chủ yếu liên quan đến các bất thường nhiễm sắc thể giới tính. Kỹ thuật micro-TESE cho thấy hiệu quả khả quan trong thu nhận tinh trùng và hỗ trợ sinh sản ở nhóm bệnh nhân này, đặc biệt ở các trường hợp hội chứng Klinefelter và vi mất đoạn AZFc. Việc kết hợp micro-TESE và ICSI đóng vai trò quan trọng trong điều trị vô sinh nam có bất thường di truyền.</p> Nguyễn Văn Tuấn, Phùng Ngọc Anh, Nguyễn Mạnh Kiên, Bạch Huy Dương, Phùng Văn Trung, Bạch Huy Anh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5821 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 PHÂN BỐ THỂ BỆNH Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở 299 BỆNH NHÂN XUẤT TINH SỚM TẠI MỘT BỆNH VIỆN TRUNG QUỐC https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5842 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát sự phân bố các thể bệnh y học cổ truyền và một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân xuất tinh sớm.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu loạt ca bệnh được thực hiện trên 299 bệnh nhân xuất tinh sớm tại Bệnh viện số 1 Đại học Trung Y Dược Quảng Châu, Trung Quốc, từ tháng 5/2023 đến tháng 2/2024. Bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Y học Tình dục Quốc tế (2014), được phân thành 4 thể bệnh y học cổ truyền gồm: Thận khí bất cố, Can uất Thận hư, Thấp nhiệt hạ chú và Âm hư hỏa vượng. Các thông tin về tuổi, thời gian mắc bệnh, loại xuất tinh sớm, điểm PEDT và rối loạn cương dương kèm theo được thu thập và phân tích.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 32,16 ± 7,17 tuổi; 83,61% bệnh nhân dưới 40 tuổi. Thể Thận khí bất cố chiếm tỷ lệ cao nhất với 75,93%, tiếp theo là Can uất Thận hư (12,37%), Thấp nhiệt hạ chú (7,02%) và Âm hư hỏa vượng (4,68%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố thể bệnh giữa nhóm xuất tinh sớm nguyên phát và thứ phát (p = 0,464). Điểm PEDT ở nhóm xuất tinh sớm nguyên phát cao hơn nhóm thứ phát có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Thận khí bất cố là thể bệnh y học cổ truyền chiếm ưu thế ở bệnh nhân xuất tinh sớm. Xuất tinh sớm nguyên phát và thứ phát có phân bố thể bệnh tương tự nhau, nhưng nhóm nguyên phát có mức độ triệu chứng nặng hơn theo điểm PEDT. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở cho biện chứng luận trị cá thể hóa trong điều trị xuất tinh sớm bằng y học cổ truyền.</p> Lê Đình Thành, Zhou Shaohu, Hoàng Thúy Hồng, Nguyễn Trường Nam, Hoàng Văn Hiếu, Feng Jiaming, Lê Văn Minh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5842 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 MICROBIOME TRONG SINH SẢN VÀ CHỨC NĂNG TÌNH DỤC NAM: TỪ TRỤC RUỘT-TINH HOÀN ĐẾN ỨNG DỤNG LÂM SÀNG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5911 <p>Microbiome ngày càng được xem là một thành tố quan trọng trong điều hòa chức năng sinh sản và sinh lý tình dục nam giới thông qua các cơ chế miễn dịch, chuyển hóa và nội tiết. Bài tổng quan tường thuật này nhằm cập nhật vai trò của hệ vi sinh đường ruột và hệ vi sinh đường sinh dục nam trong sinh tinh, chất lượng tinh trùng, testosterone và rối loạn chức năng tình dục nam, đặc biệt là rối loạn cương dương.</p> <p>Các tài liệu được tổng hợp từ các bài tổng quan, nghiên cứu quan sát, thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, thử nghiệm ngẫu nhiên tự nhiên bằng di truyền học và guideline hiện hành, chủ yếu công bố trong giai đoạn 2022–2026. Các bằng chứng hiện nay cho thấy mất cân bằng hệ vi sinh có liên quan đến giảm sinh tinh, bất thường tinh dịch đồ, tăng tổn thương DNA tinh trùng, viêm mạn tính mức độ thấp và rối loạn chức năng nội mô liên quan đến rối loạn cương. Một số nghiên cứu di truyền học gần đây cũng gợi ý rằng một số nhóm vi khuẩn đường ruột có thể liên quan trực tiếp đến nguy cơ rối loạn cương dương. Bên cạnh đó, probiotic và synbiotic bước đầu cho thấy khả năng cải thiện một số chỉ số tinh dịch và giảm stress oxy hóa ở một số nhóm bệnh nhân chọn lọc.</p> <p>Tuy nhiên, phần lớn dữ liệu hiện nay vẫn còn không đồng nhất và chủ yếu dựa trên nghiên cứu quan sát hoặc mô hình tiền lâm sàng. Ở thời điểm hiện tại, microbiome nên được xem là một lớp thông tin sinh học bổ sung trong nam khoa hơn là một đích điều trị chuẩn hóa. Tối ưu hóa lối sống và chuyển hóa vẫn là chiến lược có cơ sở bằng chứng mạnh nhất nhằm hỗ trợ nền vi sinh khỏe mạnh ở nam giới.</p> Nguyễn Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5911 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÌNH DỤC NAM: KẾT HỢP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG SÀN CHẬU VÀ NAM HỌC HIỆN ĐẠI. https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5913 <p>Rối loạn chức năng tình dục nam là một nhóm bệnh lý phức tạp, trong đó nhiều cơ chế mạch máu, nội tiết, thần kinh–tâm lý và chức năng cùng tham gia, chứ không phải bệnh lý của một cơ quan riêng lẻ. Mô hình điều trị truyền thống, vốn tập trung chủ yếu vào thuốc và điều trị theo triệu chứng, thường gặp giới hạn ở những bệnh nhân có biểu hiện phức tạp, dai dẳng hoặc kháng trị. Trong số các yếu tố cơ chế, rối loạn chức năng sàn chậu ngày càng được nhận diện là một thành tố quan trọng nhưng chưa được khai thác đầy đủ, có liên quan đến rối loạn cương, xuất tinh sớm, hội chứng đau vùng chậu mạn và rối loạn chức năng sau phẫu thuật vùng chậu. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phục hồi chức năng sàn chậu – bao gồm tập cơ, huấn luyện thư giãn, biofeedback, và một số công nghệ kích thích thần kinh–cơ – có thể cải thiện chức năng cương, kiểm soát xuất tinh, tình trạng đau và kiểm soát tiểu tiện, đặc biệt khi tích hợp vào chiến lược Nam học đa mô thức. Bài tổng quan này cung cấp bức tranh cập nhật về vai trò của sàn chậu trong rối loạn chức năng tình dục nam, tóm lược bằng chứng lâm sàng về hiệu quả phục hồi sàn chậu và đề xuất một mô hình quản lý cá thể hóa, dựa trên biểu hiện lâm sàng, trong đó phục hồi sàn chậu trở thành một cấu phần quan trọng của Nam học hiện đại.</p> Nguyễn Quang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5913 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ CÁC RỐI LOẠN TÌNH DỤC Ở NAM GIỚI TRƯỞNG THÀNH KHẢO SÁT TRÊN KHÁCH HÀNG KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5970 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát tỷ lệ các rối loạn hoạt động tình dục và một số yếu tố liên quan ở nam giới Việt Nam trưởng thành</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang trên 245 khách hàng nam giới khám sức khỏe định kỳ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 10 năm 2024 đến tháng 06 năm 2025</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 31,8 ± 9,9 tuổi. Có 87% đối tượng mắc ít nhất một rối loạn chức năng tình dục; trong đó 17,8% mắc hai rối loạn và 7,44% mắc ba rối loạn đồng thời. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy mối liên hệ hai chiều có ý nghĩa thống kê cao giữa rối loạn cương dương và rối loạn cực khoái (OR = 8,19; 95%CI: 3,03–22,15 và OR = 8,85; 95%CI: 3,24–24,15). Ngoài ra, xuất tinh sớm có liên quan có ý nghĩa với rối loạn cực khoái (OR = 2,01; 95%CI: 1,01–4,04), nhưng không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa xuất tinh sớm và rối loạn cương dương.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Xuất tinh sớm và rối loạn cương dương là các rối loạn tình dục thường gặp ở nam giới trưởng thành. Tỷ lệ đồng mắc 2 rối loạn tình dục trở lên ở mức cao.</p> Nguyễn Hoài Bắc, Nguyễn Cao Thắng, Nguyễn Thị Thanh Nga, Đặng Phan Mai Trang, Nguyễn Khánh Toàn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5970 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 PHÂN TÍCH MẠNG LƯỚI VỀ LO ÂU, TRẦM CẢM, CHIẾN LƯỢC ĐỐI PHÓ VÀ HỖ TRỢ XÃ HỘI: SO SÁNH THEO GIỚI TÍNH Ở HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5971 <p><strong>Mục tiêu: </strong>So sánh mô hình mạng lưới giữa lo âu, trầm cảm, hỗ trợ xã hội và chiến lược ứng phó ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh theo giới.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu cắt ngang trên 1081 học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng các bộ công cụ PHQ-9, GAD-7, CSI và MSPSS. Mô hình đồ thị Gaussian và kiểm định NetworkComparisonTest (R) được sử dụng để ước lượng và so sánh cấu trúc mạng lưới giữa hai giới.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Cấu trúc mạng lưới tổng thể tương đồng giữa nam và nữ. Tuy nhiên, các chiến lược ứng phó không thích nghi đóng vai trò trung tâm trong mạng lưới và khác biệt ở nam và nữ. Ở nam, “đổ lỗi cho bản thân” là nút trung tâm chính, ở nữ là “mơ tưởng” và đều có liên quan dương với lo âu, trầm cảm.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Các chiến lược ứng phó không thích nghi đóng vai trò trung tâm trong mạng lưới. Can thiệp vào các nút trung tâm này theo giới, đồng thời tăng cường chiến lược thích nghi, hỗ trợ xã hội có thể cải thiện sức khỏe tâm thần ở học sinh.</p> Ngô Thanh Như, Đinh Thị Hồng Đào, Phạm Trịnh Công Bình, Kim Xuân Loan Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5971 T7, 25 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 SÀNG LỌC UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT DỰA VÀO KẾT HỢP KHÁNG NGUYÊN ĐẶC HIỆU VỚI KHÁM TRỰC TRÀNG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5972 <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu này nhằm xác định xác suất UTTTL theo các tiêu chí kết hợp tPSA và DRE.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu thực hiện tại Trung tâm Y khoa MEDIC Hòa Hảo, thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 4 năm 2023 với thiết kế cắt ngang. Tổng cộng 583 bệnh án của bệnh nhân ≥50 tuổi có đủ kết quả DRE, tPSA và sinh thiết được chọn thuận tiện liên tục vào nghiên cứu. Các biến số được hồi cứu từ bệnh án để đưa vào dữ liệu.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Kết quả đã xác nhận bất thường nhân cứng, mật độ cứng trên DRE và tPSA là những yếu tố liên quan độc lập với UTTTL. Tất cả các nhóm có nhân cứng TTL thông qua DRE đều có xác suất UTTTL cao trên 80%. Ngoài ra, nhóm không bất thường nhân cứng mà có TTL mật độ cứng và tăng tPSA trên 20 ng/ml có xác suất UTTTL cao đạt 100%. Nhóm không bất thường DRE có tỉ lệ UTTTL từ dưới 25%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Phát hiện chỉ ra rằng xác suất UTTTL liên quan mật thiết với kết quả kết hợp DRE với tPSA. Tích hợp các biến số này giúp chỉ dẫn các quyết định theo dõi, đánh giá bổ sung và sinh thiết.</p> Diệp Bảo Tuấn, Võ Ngọc Cường, Nguyễn Trường Viễn, Vũ Khánh Linh, Nguyễn Chí Cường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5972 T7, 25 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 THẢO DƯỢC VÀ VÔ SINH NAM: TỔNG QUAN HỆ THỐNG VỀ HIỆU QUẢ TRÊN MẬT ĐỘ, DI ĐỘNG VÀ HÌNH DẠNG TINH TRÙNG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5973 <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong><em>&nbsp;Tổng hợp bằng chứng lâm sàng về hiệu quả của thảo dược đối với mật độ, độ di động và hình dạng tinh trùng ở nam vô sinh. </em></p> <p><strong><em>Phương pháp:</em></strong><em>&nbsp;Tìm kiếm tài liệu trên PubMed/MEDLINE, Scopus, Web of Science và Cochrane Library đến tháng 10/2025 với các từ khóa liên quan đến vô sinh nam, bất thường tinh dịch đồ và thảo dược. </em></p> <p><strong><em>Kết quả:</em></strong><em>&nbsp;Ashwagandha, Nigella sativa và nhân sâm đỏ cho thấy xu hướng cải thiện mật độ, độ di động và phần nào hình dạng tinh trùng trong một số nghiên cứu lâm sàng. Maca có kết quả chưa nhất quán, với một số nghiên cứu ghi nhận cải thiện nhẹ nhưng chưa chứng minh được ưu thế rõ ràng so với giả dược. Các cơ chế được ghi nhận chủ yếu liên quan đến chống oxy hóa, điều hòa hormon sinh dục và cải thiện vi tuần hoàn tinh hoàn. Nhìn chung, các thảo dược được dung nạp tương đối tốt, ít tác dụng ngoại ý nghiêm trọng. </em></p> <p><strong><em>Kết luận:</em></strong><em>&nbsp;Thảo dược có tiềm năng hỗ trợ cải thiện một số chỉ số tinh dịch đồ ở nam vô sinh, nhưng độ tin cậy của bằng chứng còn hạn chế do cỡ mẫu nhỏ, khác biệt chế phẩm và thiếu dữ liệu về các kết cục lâm sàng quan trọng như tỷ lệ có thai và sinh sống.</em></p> Đặng Hải, Phan Thanh Tài, Nguyễn Kim Vượng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5973 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN TÌNH DỤC (F52) Ở NGƯỜI BỆNH NỮ RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5974 <p><strong><em>Mục tiêu</em></strong><em>:</em>&nbsp;Mô tả đặc điểm rối loạn tình dục (F52) ở người bệnh nữ rối loạn lo âu lan tỏa tại Viện Sức khỏe Tâm thần.</p> <p><strong><em>Phương pháp nghiên cứu</em></strong><em>:</em>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 141 người bệnh nữ rối loạn lo âu lan tỏa khám ngoại trú và điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2025 đến tháng 4/2026.</p> <p><strong><em>Kết quả</em></strong><em>:</em>&nbsp;Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của người bệnh là 43,0±10,1 tuổi, phần lớn chưa mãn kinh (59,6%), tuổi trung bình bắt đầu hoạt động tình dục là 22,1±2,8 tuổi. Các rối loạn tình dục thường gặp ở nhóm đối tượng nghiên cứu bao gồm: thiếu hoặc mất ham muốn tình dục (69,5%), rối loạn chức năng khoái dục (66,7%) và thiếu thích thú tình dục (63,1%).</p> <p><strong><em>Kết luận</em></strong><em>:</em>&nbsp;Rối loạn tình dục rất phổ biến ở người bệnh nữ rối loạn lo âu lan tỏa. Việc phát hiện sớm, đánh giá đầy đủ và có biện pháp hỗ trợ kịp thời rối loạn tình dục là một bước quan trọng trong điều trị toàn diện cho người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa.</p> Lương Thị Linh, Trần Nguyễn Ngọc Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5974 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 SO SÁNH GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM QUA TRỰC TRÀNG VÀ CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5992 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu này đánh giá giá trị chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt của siêu âm qua trực tràng và cộng hưởng từ trên cùng mẫu thống nhất.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang thực hiện từ tháng 1/2020 đến tháng 4/2023 tại Trung tâm Y khoa MEDIC Hòa Hảo, thành phố Hồ Chí Minh. Tổng cộng 201 bệnh án của bệnh nhân từ trên 50 tuổi đã được hồi cứu để ghi nhận kết quả siêu âm qua trực tràng, cộng hưởng từ và sinh thiết chẩn đoán xác định ung thư tuyến tiền liệt.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trên siêu âm qua trực tràng, bất thường phản âm không đồng nhất, nhân bất thường và vỏ bọc tuyến tiền liệt bất thường đạt độ chính xác từ 78,1-79,6%. Trên cộng hưởng từ, bất thường nhân hoặc điểm Pi-rad &gt; 3 đạt độ chính xác 68,2% và 65,2%, Pi-rad &gt; 4 hoặc phát hiện hạch vùng có độ chính xác 70,2% và 63,2%, tương ứng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả bước đầu cho thấy siêu âm qua trực tràng có ưu thế hơn cộng hưởng từ về độ chính xác. Các nghiên cứu trong tương lai cần quan tâm nhiều hơn đến việc so sánh đồng thời siêu âm qua trực tràng và cộng hưởng từ để củng cố thêm bằng chứng về giá trị trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt.</p> Diệp Bảo Tuấn, Võ Ngọc Cường, Hoàng Văn Cường, Đặng Thị Minh Trang, Nguyễn Chí Cường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5992 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ VIÊN THUỐC TRÁNH THAI KHẨN CẤP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5976 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả kiến thức, thái độ về viên thuốc tránh thai khẩn cấp và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Đại học Phenikaa năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu cắt ngang trên 246 sinh viên Đại học Phenikaa</p> <p><strong>Kết quả nghiên cứu</strong>: 67,9% sinh viên biết đến viên thuốc tránh thai khẩn cấp; 63,8% sinh viên có kiến thức tốt và 85,0% sinh viên có thái độ tích cực. Kết quả hồi quy đa biến xác nhận giới tính (AOR = 2,66; 95%CI: 1,38 – 5,13), sinh viên năm 3 (AOR = 4,05; 95%CI: 1,55 – 14,32); sinh viên năm 4 (AOR = 4,2; 95%CI: 1,1 – 16,07); sinh viên ≥ năm thứ 5 (AOR = 4,92; 95%CI: 1,07 – 22,52) và sinh viên khối ngành sức khỏe (AOR = 2,28; 95%CI: 1,02 – 5,09) liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức&nbsp;(p &lt; 0,05), trong khi thái độ không xác định mối liên quan có ý nghĩa thông kê với biến độc lập khi phân tích đa biến.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: kiến thức và thái độ của sinh viên về viên thuốc tránh thai khẩn cấp ở mức khá, song vẫn tồn tại khoảng trống kiến thức cần được cải thiện thông qua các chương trình truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản phù hợp và dễ tiếp cận.</p> Nguyễn Trà My, Nguyễn Văn Liệp Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5976 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 SỐC NHIỄM KHUẨN DO VIÊM BÀNG QUANG SINH KHÍ: BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5977 <p><strong>Giới thiệu:</strong>&nbsp;Viêm bàng quang sinh khí là một thể nhiễm khuẩn đường tiết niệu hiếm gặp nhưng có thể diễn tiến nặng, dẫn đến nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường kiểm soát kém. <strong>Trường hợp lâm sàng:</strong>&nbsp;Bệnh nhân nữ 78 tuổi có tiền sử đái tháo đường típ 2 kiểm soát kém nhập viện vì sốc nhiễm khuẩn từ đường tiết niệu. Cắt lớp vi tính ghi nhận hình ảnh khí trong thành và lòng bàng quang, kèm khí quanh bàng quang; cấy nước tiểu dương tính với <em>Escherichia coli</em>. Mặc dù lactate máu ban đầu không quá cao, bệnh nhân có biểu hiện tụt huyết áp nặng không đáp ứng bù dịch, đòi hỏi phải sử dụng vận mạch. Sau điều trị hồi sức, kháng sinh tĩnh mạch, dẫn lưu bàng quang và kiểm soát đường huyết, bệnh nhân phục hồi tốt, xuất viện sau 12 ngày và không còn tổn thương tồn lưu trên siêu âm sau 4 tuần. <strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Viêm bàng quang sinh khí là bệnh lý hiếm gặp nhưng có thể diễn tiến nhanh và đe dọa tính mạng. Chẩn đoán sớm dựa trên lâm sàng kết hợp hình ảnh học (đặc biệt là cắt lớp vi tính), cùng với điều trị hồi sức tích cực, kháng sinh, dẫn lưu bàng quang và kiểm soát yếu tố nền đóng vai trò quyết định trong cải thiện kết cục điều trị.</p> Nguyễn Ngọc Thái, Phạm Ngọc Minh Châu, Nguyễn Hữu Lộc Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5977 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT MỨC ĐỘ PHÙ HỢP CỦA KHOẢNG THAM CHIẾU HIỆN HÀNH TRONG DIỄN GIẢI MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI BỆNH VIỆN SẢN – NHI TỈNH HƯNG YÊN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5978 <p><strong>Mục tiê</strong><strong>u</strong><strong>:</strong>&nbsp;Khảo sát mức độ phù hợp của khoảng tham chiếu huyết học hiện hành trong diễn giải một số chỉ số huyết học ở phụ nữ có thai tại Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Hưng Yên. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng dữ liệu hồi cứu từ 1376 hồ sơ thai phụ có đủ thông tin về giai đoạn thai kỳ và kết quả xét nghiệm RBC, HGB, WBC, PLT. Mức độ phù hợp được khảo sát thông qua tỷ lệ kết quả nằm ngoài khoảng tham chiếu hiện hành, tỷ lệ phân loại khác nhau giữa khoảng tham chiếu hiện hành và khoảng tham chiếu theo thai kỳ, và tỷ lệ kết quả ngoài khoảng hiện hành nhưng vẫn nằm trong khoảng theo thai kỳ.<strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tỷ lệ kết quả nằm ngoài khoảng tham chiếu hiện hành cao nhất ở HGB và WBC, lần lượt là 72,3% và 63,1%; thấp hơn ở RBC là 26,7% và PLT là 4,9%. Tỷ lệ phân loại khác nhau giữa hai khoảng tham chiếu cũng cao nhất ở HGB và WBC, tương ứng 70,9% và 62,7%. <strong>Kết</strong><strong>&nbsp;l</strong><strong>uận:</strong>&nbsp;Khoảng tham chiếu hiện hành có mức độ phù hợp khác nhau giữa các chỉ số huyết học, đặc biệt HGB và WBC cần được xem xét xác minh hoặc xây dựng khoảng tham chiếu chuyên biệt theo thai kỳ.</p> Đỗ Tiến Dũng, Trần Thị Thu Tư, Ngô Thị Phương Oanh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5978 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 THIẾT LẬP KHOẢNG THAM CHIẾU MỘT SỐ CHỈ SỐ HUYẾT HỌC Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI BỆNH VIỆN SẢN – NHI TỈNH HƯNG YÊN https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5979 <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Thiết lập&nbsp;khoảng tham chiếu một số chỉ số tế bào máu ngoại vi ở phụ nữ có thai theo giai đoạn thai kỳ tại Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Hưng Yên.&nbsp;<strong>Đối tượng và phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng dữ liệu hồi cứu từ hồ sơ xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi của 1376 phụ nữ có thai đến khám tại bệnh viện, gồm 260 thai phụ thai kỳ đầu, 260 thai phụ thai kỳ giữa và 856 thai phụ thai kỳ cuối. Khoảng tham chiếu được xác định bằng phương pháp không tham số theo bách phân vị 2,5-97,5 cho từng chỉ số và từng giai đoạn thai kỳ.&nbsp;<strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Khoảng tham chiếu HGB lần lượt là 86,0-142,6; 88,4-142,0 và 90,0-139,0 g/L ở thai kỳ đầu, giữa và cuối. WBC có giới hạn trên cao nhất ở thai kỳ cuối, đạt 20,45 G/L. PLT có giới hạn dưới thấp nhất ở thai kỳ cuối, 134,0 G/L. Các chỉ số bạch cầu trung tính và một số chỉ số dòng hồng cầu cũng ghi nhận dao động theo giai đoạn thai kỳ.&nbsp;<strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Nghiên cứu cung cấp dữ liệu tham khảo ban đầu cho diễn giải xét nghiệm huyết học ở phụ nữ có thai tại cơ sở và góp phần hỗ trợ phòng xét nghiệm từng bước hoàn thiện khoảng tham chiếu chuyên biệt cho phụ nữ có thai tại cơ sở.</p> Đỗ Tiến Dũng, Trần Thị Thu Tư, Ngô Thị Phương Oanh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5979 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 TỔNG QUAN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CƯỜNG GIÁP TRONG THAI KỲ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5980 <p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong><strong><em>&nbsp;</em></strong>Nghiên cứu tổng quan mô tả nhằm đánh giá thực trạng tỷ lệ mắc, đặc điểm lâm sàng,&nbsp;cận lâm sàng và kết quả quản lý điều trị cường giáp ở phụ nữ mang thai.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu tổng quan mô tả.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tỷ lệ mắc cường giáp thai kỳ dao động từ 3,93-23,60%, trong đó thể dưới lâm sàng chiếm ưu thế tuyệt đối (78,95-90,48%). Về lâm sàng, nhịp tim nhanh (OR lên đến 14,50) và hồi hộp là các chỉ điểm dự báo có giá trị cao nhất. Về cận lâm sàng, sự ức chế TSH (&lt; 0,1 mIU/L) kết hợp với FT4 là tiêu chuẩn chẩn đoán cốt lõi, bắt buộc phải đối chiếu theo khoảng tham chiếu đặc hiệu của từng tam cá nguyệt để tránh dương tính giả. Nếu không được kiểm soát, cường giáp làm tăng mạnh nguy cơ sinh non (lên tới 46,7%), tiền sản giật và nhau bong non. Can thiệp bằng thuốc kháng giáp là phương pháp chủ lực, với chiến lược linh hoạt: ưu tiên Propylthiouracil&nbsp;trong tam cá nguyệt đầu nhằm tránh nguy cơ dị tật bẩm sinh (chiếm tới 13,2% nếu phơi nhiễm Methimazole&nbsp;sớm) và chuyển sang Methimazole&nbsp;ở giai đoạn sau. Nhờ quản lý tốt, 85,6-89,0% thai kỳ mắc bệnh có thể diễn tiến hoàn toàn an toàn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong><strong><em>&nbsp;</em></strong>Cường giáp thai kỳ phần lớn diễn tiến âm thầm nhưng mang lại nhiều hệ lụy sản khoa nặng nề. Việc tầm soát sớm nhóm nguy cơ cao, chẩn đoán chính xác bằng TSH/FT4 theo tuổi thai và chiến lược sử dụng thuốc kháng giáp linh hoạt đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ sức khỏe mẹ và thai nhi.</p> Nguyễn Hoàng Dũng, Nguyễn Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Diễm Thúy, Huỳnh Thanh Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5980 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ XỬ TRÍ THAI CHẾT LƯU SAU 24 TUẦN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NỘI KHOA TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5981 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả xử trí các trường hợp thai chết lưu sau 24 tuần bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội&nbsp;trong năm 2023.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu quan sát mô tả dựa vào hồ sơ bệnh án của 105 sản phụ&nbsp;thai chết lưu sau 24 tuần được xử trí bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Trong 105 sản phụ&nbsp;thai chết lưu chuyển dạ bằng thuốc, có 67,6% sử dụng Misoprostol và 32,4% sử dụng Oxytocin. Trong 71 bệnh nhân chuyển dạ bằng Misoprotol, 87,3% thành công với liều phổ biến là 125-150&nbsp;µg và 175-200&nbsp;µg. Tuổi thai càng cao, liều Misoprostol đặt âm đạo càng thấp (p &lt; 0,05). 100% sản phụ&nbsp;sử dụng Oxytocin đều gây chuyển dạ thành công với liều phổ biến là 10-20 IU. 46,9% khởi phát chuyển dạ trong vòng 24 giờ và tuổi thai càng lớn, thời gian chuyển dạ càng ngắn (p &lt; 0,05). 79% trường hợp không xảy ra biến chứng khi điều trị thai chết lưu bằng phương pháp nội khoa. Ngoài ra, có thể gặp biến chứng chảy máu (14,3%) và nhiễm khuẩn (6,7%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Misoprostol là lựa chọn ưu tiên hơn Oxytocin để gây chuyển dạ cho các trường hợp thai chết lưu (67,6% so với&nbsp;32,4%), tương tự với nhiều nghiên cứu khác. Tuổi thai có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến loại thuốc, liều thuốc khởi phát và kết quả gây chuyển dạ.</p> Phan Thị Huyền Thương, Phan Thị Huyền Thương, Đỗ Tuấn Đạt Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5981 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ BUỒNG TRỨNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2025-2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5982 <p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong>&nbsp;Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến người bệnh ung thư buồng trứng sau phẫu thuật tại Bệnh viện K năm 2025-2026.</p> <p><strong>Đối tượng và </strong><strong>p</strong><strong>hương pháp</strong><strong>:</strong>&nbsp;Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 125 người bệnh ung thư buồng trứng sau phẫu thuật ngày thứ 7 điều trị nội trú tại Khoa Ngoại Phụ khoa và Khoa Điều trị theo yêu cầu,&nbsp;Bệnh viện K.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>:</strong>&nbsp;Tỷ lệ suy dinh dưỡng sau phẫu thuật theo GLIM chiếm 79,2%; suy dinh dưỡng theo BMI (23,2%),&nbsp;trong khi tỷ lệ thừa cân/béo phì (4%); suy dinh dưỡng theo albumin (33,8%); thiếu máu chiếm tỷ lệ 44,8%. Ở nông thôn, người bệnh có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao gấp 2,95 lần người bệnh sống ở thành thị, với (OR&nbsp;= 2,95;&nbsp;95% CI: 1,01-8,56), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p&nbsp;&lt;&nbsp;0,05.</p> <p><strong>Kết luận</strong><strong>:</strong>&nbsp;Suy dinh dưỡng sau phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao. Nơi ở là một yếu tố độc lập với tình trạng dinh dưỡng của người bệnh. Cần có sự can thiệp và tư vấn dinh dưỡng phù hợp và kịp thời để cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người bệnh sau phẫu thuật.</p> Nguyễn Thị Liên, Hoàng Việt Bách, Hoàng Thị Phương, Ma Ngọc Yến, Nguyễn Đức Dịu, Lê Thị Huong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5982 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 TỔNG QUAN BỆNH SUY GIÁP THAI KỲ VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT CỤC CỦA MẸ VÀ THAI NHI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5983 <p><strong>Mục tiêu:</strong><strong><em>&nbsp;</em></strong>Nghiên cứu tổng quan mô tả nhằm đánh giá thực trạng tỷ lệ mắc, đặc điểm lâm sàng và ảnh hưởng của suy giáp thai kỳ đối với kết cục của mẹ và thai nhi.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu tổng quan mô tả.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tổng hợp từ các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc suy giáp trong thai kỳ dao động từ 10,2-24,7%, trong đó suy giáp dưới lâm sàng thường chiếm ưu thế (1,6-9,0%). Bệnh thường diễn tiến âm thầm với các triệu chứng không điển hình như mệt mỏi (62%), táo bón (27%) và sợ lạnh. Suy giáp thai kỳ làm gia tăng đáng kể các biến chứng ở mẹ bao gồm: tăng huyết áp thai kỳ (OR = 2,3-14,1), sinh non (OR = 2,39-4,16) và tăng tỷ lệ mổ lấy thai (OR = 1,75-4,47). Đối với thai nhi, rủi ro trẻ nhẹ cân tăng mạnh (OR lên đến 6,3), điểm APGAR thấp cao gấp 3,45-3,64 lần và tần suất dị tật bẩm sinh cao hơn từ 2-3 lần so với nhóm bình giáp.</p> <p><strong>Kết luận:</strong><strong><em>&nbsp;</em></strong>Suy giáp thai kỳ là rối loạn nội tiết phổ biến gây nhiều hệ lụy sản khoa nghiêm trọng cho cả mẹ và con. Việc chủ động tầm soát nồng độ TSH, FT4 trong tam cá nguyệt đầu và can thiệp kịp thời bằng Levothyroxine đóng vai trò then chốt giúp đưa các rủi ro về mức tương đương dân số chung.</p> Hồ Hoàng Tuấn, Nguyễn Thanh Tùng, Huỳnh Thanh Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5983 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 TỔNG QUAN THỰC TRẠNG VÀ QUẢN LÝ BÍ TIỂU SAU SINH Ở PHỤ NỮ MANG THAI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5984 <p><strong>Mục tiêu</strong><strong>: </strong>Nghiên cứu tổng quan mô tả nhằm đánh giá thực trạng tỷ lệ mắc, các yếu tố nguy cơ và kết quả quản lý điều trị bí tiểu sau sinh ở phụ nữ mang thai.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu tổng quan mô tả.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tổng hợp từ 8 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bí tiểu sau sinh dao động từ 10,2-24,7%. Các yếu tố nguy cơ mang tính cơ học và can thiệp sản khoa nổi bật bao gồm: sinh con so (chiếm tỷ lệ áp đảo từ 29,1-87,2% trong nhóm bệnh), sinh thủ thuật (31,1-35,5%) và sử dụng giảm đau sản khoa (gây tê ngoài màng cứng làm tăng nguy cơ gấp 3,1 lần). Tổn thương tầng sinh môn phức tạp và thời gian sổ thai kéo dài cũng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh. Về xử trí, các biện pháp bảo tồn không xâm lấn (hướng dẫn tiểu tiện, chườm ấm) là chiến lược đầu tay và phổ biến nhất (71,6-100%). Bệnh có tiên lượng phục hồi rất khả quan với thời gian điều trị trung bình từ 2,0-4,18 ngày; tỷ lệ sản phụ lấy lại khả năng tiểu tiện bình thường sau 48 giờ đạt rất cao, từ 92,2-97,7%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong><strong><em>&nbsp;</em></strong>Bí tiểu sau sinh&nbsp;là một biến chứng hậu sản thường gặp, liên quan mật thiết đến sinh con so, sinh thủ thuật và gây tê vùng. Việc chủ động tầm soát sớm ở nhóm nguy cơ cao và ưu tiên áp dụng các biện pháp can thiệp không xâm lấn mang lại hiệu quả cao, giúp phần lớn sản phụ hồi phục hoàn toàn và nhanh chóng.</p> Huỳnh Thảo Nguyên, Huỳnh Thanh Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5984 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA PHỤ NỮ TẦM SOÁT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU HÀ NỘI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5985 <p>&nbsp;</p> <p><strong>Objective: </strong>Describe some clinical and paraclinical characteristics of women screened for cervical cancer &nbsp;at Hanoi Oncology Hospital during the period 2024-2025. <strong>Subjects and Methods: </strong>A retrospective and prospective cross-sectional study of 339 women aged 21-65 who had been sexually active and screened for cervical cancer &nbsp;at Hanoi Oncology Hospital from October 2024 to December 2025. The participants in the study gynecological examination, VIA, PAP smear, collected the characteristics of the object of study population sociology. <strong>Results:</strong>&nbsp;The mean age was 43,4 ± 8,2 years, the 40-49 age group accounted for the highest percentage at 44,2%. The group with 1–2 pregnancies accounted for the highest percentage at 70,2%, followed by 3 or more pregnancies at 24,2%; the percentage of patients with a history of miscarriage was 13,3%; and the percentage of those who underwent abortion was 57,8%. The majority of study participants were still menstruating (76,7%); the average age of first sexual intercourse was 23,1 ± 2,9; and the majority of study participants had one sexual partner (88,2%). Vaginal discharge was the most common reason for seeking medical attention (38,1%). The rate of benign cervical lesions was 75,8%, normal lesions accounted for 20,9%, and abnormalities accounted for 3,3%. The rates of VIA-positive and HPV-positive results in the study were 11,8% and 19,2%. 8,3% of the subjects had abnormal Pap test results. <strong>Conclusion: </strong>Women undergoing cervical cancer screening at Hanoi Oncology Hospital during the 2024-2025 period were mainly aged 40-49. Cervical lesions are predominantly benign, accounting for 75.8%&nbsp;and the rates of positive VIA, HPV, and Pap test results in the study were 11,8%, 19,2%, and 8,3%.&nbsp;</p> Phạm Hoài Phương, Nguyễn Thị Thu Hường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5985 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TỬ CUNG DO U XƠ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5986 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt tử cung do u xơ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 130 bệnh nhân được chẩn đoán u xơ tử cung lành tính và được phẫu thuật nội soi cắt tử cung (hoàn toàn hoặc bán phần) tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 01/01/2024 đến 31/12/2024.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Thời gian phẫu thuật trung bình là 81,33 ± 14,62 phút, lượng máu mất trung bình 181,34 ± 40,88 ml; 75,4% trường hợp mất 100–200 ml máu. Tỷ lệ tai biến trong mổ là 2,3% và tai biến sau mổ là 1,5%. Sau phẫu thuật, 96,9% bệnh nhân không sốt và 91,5% xuất viện trong 3–5 ngày. Lượng máu mất có liên quan có ý nghĩa thống kê với tiền sử phẫu thuật ổ bụng (p = 0,016), đường kính u lớn nhất và thời gian mổ (p &lt; 0,001).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phẫu thuật nội soi cắt tử cung do u xơ tử cung là phương pháp an toàn, hiệu quả, ít biến chứng và giúp hồi phục nhanh, phù hợp với xu hướng can thiệp xâm lấn tối thiểu hiện nay.</p> Đỗ Thị Tuyết Mai , Lê Thị Anh Đào, Trương Quang Vinh Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5986 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 NGHIÊN CỨU LƯỢNG MÁU MẤT KHI MỔ LẤY THAI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở THAI PHỤ CÓ VẾT MỔ LẤY THAI CŨ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5999 <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đặc điểm cuộc mổ và đánh giá lượng máu mất, các yếu tố liên quan với mất máu ≥500 mL ở thai phụ mổ lấy thai có vết mổ lấy thai cũ.</p> <p><strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 402 thai phụ mổ lấy thai có vết mổ lấy thai cũ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 07/2024 đến tháng 01/2026. Lượng máu mất được định lượng bằng túi đo, dịch hút sau khi trừ nước ối và dịch rửa, kết hợp cân gạc theo nguyên tắc cân khô–ướt.</p> <p><strong><em>Kết quả: </em></strong>Tuổi trung bình là 31,16 ± 5,61 tuổi. Đa số có một lần mổ lấy thai trước đó (71,64%) và khoảng cách giữa các lần mổ &gt;24 tháng (85,57%). Lượng máu mất trung bình là 402,94 ± 143,28 mL. Nhóm mất máu 500–&lt;1000 mL chiếm 15,42% và nhóm ≥1000 mL chiếm 0,75%. Sau hiệu chỉnh, tuổi mẹ ≥35 tuổi, thiếu máu trước mổ, dính vùng chậu, bất thường nhau bám, u xơ cơ tử cung và cân nặng thai ước tính ≥3500 g liên quan với mất máu ≥500 mL.</p> <p><strong><em>Kết luận: </em></strong>Mất máu trong mổ lấy thai ở thai phụ có vết mổ lấy thai cũ chủ yếu dưới 500 mL. Cần chú ý tuổi mẹ ≥35 tuổi, thiếu máu trước mổ, cân nặng thai ước tính ≥3500 g và các yếu tố trong mổ như dính vùng chậu, bất thường nhau bám, u xơ cơ tử cung khi đánh giá nguy cơ mất máu ở nhóm thai phụ này.</p> Nguyễn Ngọc Trân Vy, Nguyễn Hữu Thời, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Tấn Hưng, Phan Hữu Thúy Nga Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/5999 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở VỊ THÀNH NIÊN 15–17 TUỔI ĐẾN KHÁM TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HÓC MÔN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6000 <p>Đặt vấn đề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) ở vị thành niên có vai trò quan trọng trong dự phòng mang thai ngoài ý muốn và bệnh lây truyền qua đường tình dục. Mục tiêu: Mô tả thực trạng tiếp cận thông tin/dịch vụ, kiến thức, thái độ, thực hành về CSSKSS ở vị thành niên 15–17 tuổi đến khám tại Trung tâm Y tế huyện Hóc Môn năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 218 vị thành niên 15–17 tuổi, chọn mẫu thuận tiện từ 26/11/2024 đến 11/03/2025. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc; phân tích mô tả, OR thô, khoảng tin cậy 95% và p&lt;0,05. Kết quả: Nữ chiếm 63,3%; nhóm 17 tuổi chiếm 44,0%. Internet là kênh thông tin phổ biến nhất (82,0%); 55,6% đã từng tham gia giáo dục sức khỏe hoặc tư vấn SKSS. Kiến thức chung đạt 73,4%, thái độ chung đạt 89,5% và hành vi đúng chung đạt 93,6%. Kiến thức đạt về an toàn tình dục còn thấp (48,6%); kiến thức đạt về thời điểm dễ có thai là 56,4%. Nữ có khả năng đạt kiến thức về thời điểm dễ có thai cao hơn nam (OR=2,67; KTC 95%: 1,52–4,71) và thái độ chung đạt cao hơn nam (OR=5,94; KTC 95%: 2,23–15,78). Tỷ lệ đã từng quan hệ tình dục là 11,9%; trong nhóm này, 50,0% luôn sử dụng bao cao su. Kết luận: KAP về CSSKSS nhìn chung ở mức khá, nhưng còn khoảng trống về an toàn tình dục, thời điểm dễ có thai và sử dụng bao cao su liên tục. Cần tăng cường truyền thông số chính thống, giáo dục SKSS trong trường học và dịch vụ thân thiện vị thành niên.</p> Dương Hoàng Ngân, Cao Quốc Dũng, Vương Vũ Công, Đặng Văn Thạch Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6000 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 BÁO CÁO CA BỆNH VỀ KHÁM TRISOMI 7 ĐƯỢC XÁC NHẬN TRƯỚC SINH SAU CHUYỂN PHÔI KHẢM PHỨC TẠP https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6001 <p>Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ nhằm sàng lọc lệch bội (PGT-A) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong hỗ trợ sinh sản, đặc biệt ở các bệnh nhân có tiền sử sảy thai liên tiếp hoặc thất bại làm tổ nhiều lần. Sự phát triển của công nghệ giải trình tự thế hệ mới (NGS) đã làm gia tăng tỷ lệ phát hiện phôi khảm, đặt ra nhiều thách thức trong quyết định chuyển phôi và quản lý thai kỳ sau đó [1–4].</p> <p>Mặc dù nhiều nghiên cứu và báo cáo ca bệnh cho thấy khả năng sinh con sống khỏe mạnh sau chuyển phôi khảm, nguy cơ tồn tại khảm thai nhi, khảm khu trú ở nhau thai và sự không tương đồng giữa các xét nghiệm di truyền tiền làm tổ, chẩn đoán trước sinh và sau sinh vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn [2,5,6]. Do đó, các báo cáo ca bệnh chuyển phôi khảm với theo dõi đầy đủ trước và sau sinh đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp bằng chứng thực tế cho thực hành lâm sàng.</p> <p>Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 32 tuổi, hiếm muộn do tắc hai vòi trứng và tiền sử sảy thai liên tiếp. Sau một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm kết hợp PGT-A, không ghi nhận phôi nguyên bội, chỉ có một phôi khảm phức tạp. Sau tư vấn di truyền toàn diện, bệnh nhân quyết định chuyển phôi khảm. Thai kỳ đạt được sau chuyển phôi đông lạnh. Chẩn đoán trước sinh bằng chọc ối xác nhận khảm trisomy 7 (20%). Theo dõi hình thái học thai kỳ không ghi nhận bất thường. Trẻ sinh non ở 34 tuần 05 ngày, cân nặng phù hợp tuổi thai và xét nghiệm nhiễm sắc thể máu ngoại vi sau sinh không phát hiện bất thường.</p> Phạm Thị Thùy Dương, Phan Thị Mận Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6001 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 NGHIÊN CỨU TỈ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NGUY CƠ TRẦM CẢM Ở THAI PHỤ 3 THÁNG CUỐI THAI KỲ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC LONG KHÁNH https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6003 <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở thai phụ 3 tháng cuối thai kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Long Khánh năm 2025. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi dọc có phân tích được thực hiện trên 189 thai phụ mang thai từ 29 tuần trở lên. Nguy cơ trầm cảm được đánh giá bằng thang đo EPDS (Edinburgh Postnatal Depression Scale) với điểm cắt ≥13 điểm. <strong>Kết quả:</strong> Tỉ lệ thai phụ nguy cơ trầm cảm trong 3 tháng cuối thai kỳ được ghi nhận là 16,9%. Phân tích cho thấy các yếu tố có mối liên quan nguy cơ mắc trầm cảm bao gồm: mang thai ngoài dự định (OR=13,67), gia đình có tiền sử trầm cảm(OR=10,4), gặp biến cố từ gia đình (OR=8,51), ly thân/ly hôn không chung sống với chồng (OR=8,01), thiếu sự hỗ trợ từ chồng/không nghĩ đến chồng khi gặp khó khăn (OR=3,96 mâu thuẫn vợ chồng (OR=3,87) và hoàn cảnh kinh tế hộ nghèo/cận nghèo (OR=3,06). <strong>Kết luận:</strong> Tỉ lệ nguy cơ trầm cảm ở 3 tháng cuối thai kỳ là 16,9%. Việc tầm soát trầm cảm thường quy ở thai phụ là cần thiết để kịp thời hỗ trợ sức khỏe tinh thần, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến các thai phụ gặp các yếu tố nguy cơ về thiếu hụt sự hỗ trợ từ gia đình và người chồng.</p> Phan Triệu Thảo Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6003 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁNH GIÁ MẬT ĐỘ KHOÁNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ NGAY SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÁI BÌNH https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6004 <p>&nbsp;</p> <p>&nbsp;</p> <p><strong>Mục tiêu</strong><strong>: </strong>Đánh giá mật độ xương của phụ nữ ngay sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Thái Bình, năm 2026. <strong>Phương pháp</strong>: trong thời gian từ tháng 8/2025 đến 8/2026, thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 112 sản phụ ngay sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Thái Bình. <strong>Kết quả</strong>: Mật độ xương trung bình tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi trái lần lượt là 1,117±0,162 và 0,913±0,144 g/cm<sup>2</sup>. Tỷ lệ giảm mật độ xương ở CSTL và CXĐ trái lần lượt là 22,3% và 2,7%. <strong>Kết luận</strong>: Kết quả này phản ánh tác động rõ rệt của thai kỳ lên quá trình tái cấu trúc hệ xương xốp. Do đó, việc chủ động sàng lọc, tư vấn dinh dưỡng và bổ sung canxi, vitamin D sớm cho phụ nữ ngay trong giai đoạn sớm sau sinh là vô cùng cần thiết nhằm dự phòng mất xương kéo dài khi nuôi con bằng sữa mẹ.</p> Tăng Thị Hải, Tăng Thị Hảo Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6004 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 LYCIUM BARBARUM (KỶ TỬ) VÀ TÍNH TOÀN VẸN DNA TINH TRÙNG: TỔNG QUAN TƯỜNG THUẬT VỀ CƠ CHẾ CHỐNG OXY HÓA VÀ BẰNG CHỨNG LÂM SÀNG CÒN HẠN CHẾ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6005 <p><em>Mục tiêu: Tổng hợp bằng chứng cơ chế và lâm sàng về Lycium barbarum liên quan đến tính toàn vẹn DNA tinh trùng, tập trung vào stress oxy hóa và vi môi trường tinh hoàn.</em></p> <p><em>Phương pháp: Tổng quan tường thuật có cấu trúc trên PubMed/MEDLINE, Web of Science, Scopus và Google Scholar đến tháng 11/2025 với các từ khóa về Lycium barbarum, Lycii Fructus, Lycium barbarum polysaccharides, stress oxy hóa, tinh trùng, tinh hoàn, tổn thương DNA tinh trùng và vô sinh nam.</em></p> <p><em>Kết quả: Mười tài liệu then chốt được tổng hợp, gồm 1 bài tổng quan cơ chế, 8 nghiên cứu tiền lâm sàng và 1 thử nghiệm ngẫu nhiên có giả dược. Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy polysaccharid của Lycium barbarum làm tăng hoạt tính enzym chống oxy hóa, giảm peroxy hóa lipid, bảo tồn cấu trúc ống sinh tinh, hỗ trợ tế bào Sertoli và điều hòa các đường tín hiệu liên quan apoptosis, stress lưới nội bào và tổn thương phụ thuộc sắt. Tuy nhiên, dữ liệu trực tiếp về phân mảnh DNA tinh trùng còn ít. Thử nghiệm lâm sàng duy nhất ghi nhận cải thiện stress oxy hóa, testosterone và chất lượng tinh dịch, nhưng chưa đánh giá trực tiếp DNA tinh trùng hay kết cục sinh sản.</em></p> <p><em>Kết luận: Lycium barbarum có cơ sở sinh học hợp lý trong duy trì tính toàn vẹn DNA tinh trùng, nhưng bằng chứng trên người còn rất hạn chế và chưa đủ để khuyến cáo thường quy. Cần thêm các thử nghiệm ngẫu nhiên với chế phẩm chuẩn hóa và tiêu chí đánh giá trực tiếp tổn thương DNA tinh trùng.</em></p> Võ Văn Sang, Phan Thanh Tài, Nguyễn Kim Vượng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6005 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP PLASMA LẠNH TRONG THÚC ĐẨY HỒI PHỤC VẾT KHÂU TẦNG SINH MÔN SAU ĐẺ THƯỜNG TẠI https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6006 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của chiếu tia plasma lạnh trong phục hồi vết khâu tầng sinh môn sau đẻ thường. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 140 sản phụ đẻ thường con so có khâu tầng sinh môn độ 2, gồm nhóm chiếu plasma lạnh và nhóm chăm sóc thường quy, mỗi nhóm 70 sản phụ. Mức độ đau được đánh giá bằng thang điểm VAS, tình trạng hồi phục vết khâu được đánh giá bằng thang điểm REEDA tại ngày 1, 2, 3 và 14 sau đẻ. <strong>Kết quả:</strong> Hai nhóm tương đồng về tuổi, BMI, bệnh lý nội khoa và cân nặng thai, nhưng khác biệt về nghề nghiệp. Điểm VAS và REEDA không khác biệt có ý nghĩa thống kê tại ngày 1 và 2. Từ ngày 3 đến ngày 14, nhóm chiếu plasma lạnh có điểm VAS và REEDA thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chăm sóc thường quy. Sau hiệu chỉnh theo BMI, bệnh lý nội khoa, cân nặng thai và nghề nghiệp, chiếu plasma lạnh vẫn có liên quan với điểm VAS và REEDA thấp hơn tại ngày 3 và ngày 14. Không ghi nhận nhiễm trùng tầng sinh môn ở cả hai nhóm. <strong>Kết luận:</strong> Chiếu plasma lạnh có liên quan đến cải thiện nhanh hơn mức độ đau và hồi phục vết khâu tầng sinh môn trong giai đoạn hậu sản sớm. Cần thêm nghiên cứu có thiết kế chặt chẽ và thời gian theo dõi dài hơn để khẳng định hiệu quả và đánh giá đầy đủ tính an toàn.</p> Trần Thị Sơn Trà, Phan Thị Hằng, Hồ Minh Hòa Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6006 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 TỔNG QUAN CHẨN ĐOÁN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6007 <p><strong>Mục tiêu</strong><strong>: </strong>Nghiên cứu tổng quan này nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung trong những năm gần đây.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu tổng quan mô tả.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Bệnh chủ yếu gặp ở độ tuổi 56-58, gắn liền chặt chẽ với hội chứng chuyển hóa (béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp). Triệu chứng ra máu âm đạo bất thường chiếm tỷ lệ rất cao (90-95,5%). Trên siêu âm ngả âm đạo, bề dày nội mạc ≥ 15,8 mm và điểm Doppler &gt; 2 theo tiêu chuẩn IETA là các dấu hiệu dự báo ác tính mạnh mẽ. Phẫu thuật (ưu tiên nội soi) kết hợp hóa-xạ trị bổ trợ là phác đồ chủ đạo. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 5 năm tại Việt Nam đạt xấp xỉ 80%, tiệm cận với các thử nghiệm quốc tế lớn như PORTEC-3 hay NSGO/EORTC.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Triệu chứng ra máu âm đạo và siêu âm Doppler IETA có giá trị cao trong tầm soát, chẩn đoán sớm. Việc cá thể hóa phác đồ điều trị đa mô thức dựa trên phân tầng nguy cơ giúp cải thiện rõ rệt thời gian sống còn cho người bệnh.</p> Nguyễn Khánh Văn, Nguyễn Thanh Tùng, Huỳnh Thanh Phong Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6007 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở NHÓM THAI PHỤ BỊ TIỀN SẢN GIẬT MẮC MỘT SỐ BỆNH LÝ NỀN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG TỪ NĂM 2023-2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6008 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở nhóm thai phụ bị tiền sản giật mắc một số bệnh lý nền tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 205 đối tượng đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 1/2023 đến tháng 12/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu trên các thai phụ tiền sản giật ghi nhận tuổi trung bình là 33,86 ± 5,86 tuổi. Tiền sản giật có dấu hiệu nặng chiếm đa số (80,98%). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm ure, AST, ALT, LDH, MHVC và cân nặng thai trên 2 nhóm sản phụ tiền sản giật có dấu hiệu nặng và không có dấu hiệu nặng. Tăng huyết áp là bệnh lý nền đi kèm thường gặp nhất. Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng huyết áp với tiền sản giật có dấu hiệu nặng (OR = 3,12; p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tiền sản giật có dấu hiệu nặng chiếm tỷ lệ cao. Tăng huyết áp là bệnh lý nền mạn tính phổ biến nhất, bên cạnh các bệnh nền khác làm tăng nguy cơ và mức độ nặng của tiền sản giật.</p> Lê Đình Quang, Đoàn Mạnh Tín, Trần Danh Cường Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6008 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BĂNG HUYẾT SAU SINH DO ĐỜ TỬ CUNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHÈN BÓNG SONDE FOLEY TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG NĂM 2020-2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6009 <p><strong>M</strong><strong>ục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng sản phụ băng huyết do đờ tử cung sau sinh đường âm đạo được chèn bóng sonde Foley và nhận xét kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan ở đối tượng nghiên cứu trên.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 50 sản phụ băng huyết do đờ tử cung sau sinh đường âm đạo, được điều trị bằng chèn bóng sonde Foley tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ ngày 1/9/2020 đến ngày 1/9/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình 28,6 ± 6,1 tuổi; 100% sinh đường âm đạo. Chuyển dạ kéo dài là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất (32%). Lượng máu mất trung bình 986 ± 342 ml; 72% có sốc khi can thiệp. Tỷ lệ thành công chèn bóng hoàn toàn 88% (95% CI: 75,7-95,5%). Tỷ lệ bảo tồn tử cung chung 92% (95% CI: 80,8-97,8%). Tỷ lệ cắt tử cung 8%. Không có tử vong mẹ, không có nhiễm trùng hậu sản. Yếu tố liên quan thất bại gồm: lượng máu mất ≥ 1500 ml (p = 0,001), thời gian từ sinh đến chèn bóng ≥ 30 phút (p = 0,002), hemoglobin &lt; 8 g/dL (OR = 10,7; p = 0,030), thể tích bơm &lt; 80 ml (p = 0,04).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chèn bóng sonde Foley 30F đạt tỷ lệ bảo tồn tử cung 92%, an toàn, không biến chứng nhiễm trùng khi dùng kháng sinh phổ rộng dự phòng. Can thiệp sớm trong 30 phút và bơm đủ ≥ 80 ml là yếu tố kỹ thuật then chốt.</p> Phạm Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hoàng Trang Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6009 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 BÁO CÁO CA LÂM SÀNG HIẾM GẶP: THAI DỊ VỊ SAU THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6010 <p>Thai dị vị là tình trạng đồng thời tồn tại thai trong tử cung và thai ngoài tử cung. Đây là một bệnh lý hiếm gặp trong thai kỳ tự nhiên nhưng có xu hướng gia tăng rõ rệt trong bối cảnh áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong trường hợp thai ngoài tử cung ở vị trí đoạn kẽ là một thể thai đặc biệt nguy hiểm do nguy cơ vỡ muộn và chảy máu ồ ạt. Chúng tôi báo cáo một trường hợp thai dị vị hiếm gặp gồm một thai trong tử cung còn sống và một thai ngoài tử cung đoạn kẽ vòi trứng phải sau thụ tinh trong ống nghiệm ở bệnh nhân đã được cắt vòi trứng phải trước đó. Bệnh nhân được chẩn đoán sớm bằng siêu âm và xử trí phẫu thuật nội soi kịp thời, bảo tồn được thai trong tử cung. Thai kỳ tiến triển thuận lợi và kết thúc bằng sinh mổ đủ tháng với trẻ sơ sinh khỏe mạnh.&nbsp; Qua đây chúng tôi muốn nhấn mạnh vai trò của việc chẩn đoán sớm thai dị vị: 01 thai trong tử cung và 01 thai ngoài tử cung đoạn kẽ ở các bệnh nhân mang thai sau hỗ trợ sinh sản, kể cả khi đã có tiền sử cắt vòi trứng từ đó có các xử trí ngoại khoa kịp thời và mang lại kết cục tốt cho cả mẹ và thai trong tử cung.</p> Phạm Thị Thùy Dương, Phan Thị Mận Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6010 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở THAI PHỤ ĐẾN KHÁM THAI TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 NĂM 2025 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6011 <p>Mục tiêu: Xác định tỉ lệ và phân tích một số yếu tố liên quan đến đái tháo đường thai kỳ ở thai phụ 24-28 tuần đến khám thai tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2025.</p> <p>Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mổ tả cắt ngang trên 195 thai phụ 24-28 tuần đến khám thai tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2025.</p> <p>Kết quả: Có 52 thai phụ được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ, chiếm tỷ lệ 26,7%. Trong số các trường hợp mắc đái tháo đường thai kỳ, 40,4% được phát hiện tại thời điểm đo glucose máu lúc đói; 51,9% được chẩn đoán thêm sau 1 giờ và 7,7% sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ cao hơn có ý nghĩa ở nhóm thai phụ có tuổi mẹ ≥35, thừa cân, có tiền sử gia đình thế hệ thứ nhất mắc đái tháo đường, tiền sử rối loạn dung nạp glucose và tiền sử đái tháo đường thai kỳ.</p> <p>Kết luận: Đái tháo đường thai kỳ chiếm tỷ lệ khá cao ở thai phụ 24-28 tuần. Việc sàng lọc đầy đủ bằng nghiệm pháp dung nạp glucose và chú trọng theo dõi các thai phụ nguy cơ cao là cần thiết nhằm phát hiện sớm và quản lý hiệu quả đái tháo đường thai kỳ.</p> Hoàng Văn Sơn, Phạm Khánh Linh, Đào Nguyên Hùng Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6011 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU NGOÀI MÀNG CỨNG SAU PHẪU THUẬT LẤY THAI DO BỆNH NHÂN TỰ ĐIỀU KHIỂN BẰNG MÁY PCA TẠI BỆNH VIỆN BÃI CHÁY NĂM 2025: NHẬN XÉT 30 TRƯỜNG HỢP https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6012 <p><strong>Mục tiêu</strong><strong>:</strong> Nhận xét hiệu quả giảm đau của gây tê ngoài màng cứng do bệnh nhân tự điều khiển.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Mô tả loạt trường hợp cho 30 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật lấy thai, được sử dụng phương pháp giảm đau ngoài màng cứng tự điều khiển (PCEA) sau phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện Bãi Cháy từ tháng 03/2025 đến tháng 10/2025.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>: </strong>Bệnh nhân chủ yếu dưới 30 tuổi (63,3%). Thể tích tiêm liều khởi đầu trung bình là 5,93 ± 0,83 mL, dao động từ 4 đến 7 mL. Điểm đau trung bình (VAS) giảm dần theo thời gian: cao nhất trong 24 giờ đầu (VAS trung bình 4,8 ± 0,9 ngay sau mổ) và giảm còn 1,5 ± 0,4 sau 72 giờ. Tất cả bệnh nhân đều đạt mức giảm đau thỏa đáng, không có trường hợp nào phải chuyển sang giảm đau phương pháp khác. Về liều lượng và mức tiêu thụ thuốc, tổng liều thuốc tê trung bình trong 72 giờ là 287 ± 15 mg. Các tác dụng phụ ghi nhận nhẹ và thoáng qua, chủ yếu là nôn – buồn nôn (26,7%) và ngứa (16,7%), không cần can thiệp điều trị đặc biệt. Không có biến chứng nghiêm trọng như tụt huyết áp, bí tiểu, ức chế hô hấp hoặc đau đầu sau chọc kim.</p> <p>Kết luận: PCEA cho thấy khả năng kiểm soát đau tốt trong nhóm 30 sản phụ được theo dõi 72 giờ, với tác dụng phụ nhẹ.</p> Phạm Hòa Hưng, Phùng Văn Chinh, Nguyễn Văn Quang, Phạm Văn Trung, Đoàn Như Thúy, Nguyễn Trung Thành Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6012 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 KHẢO SÁT HIỆU QUẢ VÀ ĐỘ AN TOÀN CỦA KỸ THUẬT VABB DƯỚI HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM ĐIỀU TRỊ U LÀNH TÍNH TUYẾN VÚ https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6013 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát các tai biến, biến chứng, đánh giá hiệu quả sạch u bước đầu và đo lường mức độ hài lòng của người bệnh sau điều trị u lành tính tuyến vú bằng kỹ thuật sinh thiết cắt u vú có hỗ trợ hút chân không (VABB).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có theo dõi dọc trên 53 bệnh nhân với 64 khối u tuyến vú đã có kết quả giải phẫu bệnh là lành tính. Sau đó được can thiệp sinh thiết trọn u và điều trị cắt u bằng kỹ thuật VABB tại Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 5/2025 đến tháng 4/2026. Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS, các biến chứng tại chỗ, tỷ lệ sạch u, và mức độ hài lòng bằng thang đo Likert sau 1 tháng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 34,32 ± 11,38 tuổi. Tỷ lệ mô bệnh học sau VABB chủ yếu là u xơ tuyến vú (79,69%). Sau 1 tháng theo dõi, tỷ lệ sạch u hoàn toàn đạt 95,31% tính theo khối u và 94,34% tính theo bệnh nhân. Điểm đau VAS trung bình sau thủ thuật ở mức thấp (2,77 ± 2,09 điểm), chủ yếu là đau nhẹ (64,15%). Không ghi nhận tai biến, biến chứng nghiêm trọng; biến chứng thường gặp nhất là tụ máu tại chỗ (43,75%) nhưng chủ yếu là các ổ tụ máu nhỏ (đường kính &lt; 3 cm) tự giới hạn và hấp thu hoàn toàn sau 1 tháng. Tổng tỷ lệ người bệnh hài lòng và rất hài lòng sau can thiệp đạt 94,34%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Điều trị u lành tính tuyến vú bằng kỹ thuật VABB dưới hướng dẫn của siêu âm có độ an toàn cao, ít xâm lấn, mang lại hiệu quả làm sạch u bước đầu rất tốt và đạt mức độ hài lòng tối ưu từ phía người bệnh.</p> Vũ Thị Thu Lan, Hoàng Đình Anh, Lê Duy Dũng, Vũ Thu Thủy, Lê Minh Trường, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Ngọc Hòa Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6013 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BĂNG HUYẾT SAU SINH THƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6014 <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Nhận xét các yếu tố liên quan độc lập đến băng huyết sau sinh thường tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng giai đoạn 2020-2026.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu bệnh-chứng có ghép cặp (1:2), hồi cứu hồ sơ bệnh án, gồm 61 ca băng huyết sau sinh và 122 ca chứng, ghép cặp theo tuổi mẹ, khu vực sinh sống, số lần sinh và tuần thai. Phân tích hồi quy logistic có điều kiện; kết quả biểu diễn qua OR hiệu chỉnh (aOR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI).</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;4 yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê: thai to &gt; 4000g (aOR = 15,42; 95% CI: 3,21-74,1; p = 0,001), đa ối (aOR = 12,65; 95% CI: 1,48-108,2; p = 0,020), tiền sử băng huyết sau sinh (aOR = 10,12; 95% CI: 1,65-62,0; p = 0,012) và thiếu máu hemoglobin &lt; 110 g/L (aOR = 3,14; 95% CI: 1,45-6,82; p = 0,004). Tiền sản giật và tiền sử nạo/sảy thai không còn liên quan độc lập trong phân tích đa biến.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;4 yếu tố nguy cơ độc lập được xác định có giá trị ứng dụng trực tiếp trong xây dựng bảng kiểm sàng lọc nguy cơ và tối ưu hóa chiến lược dự phòng băng huyết sau sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.</p> Nguyễn Thị Hoàng Trang, Phạm Thanh Nhàn Copyright (c) 2026 https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6014 T4, 29 Thg 7 2026 00:00:00 +0000