Tạp chí Y học Cộng đồng
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd
<p>Demo</p>Vietnam Institute of Community Healthvi-VNTạp chí Y học Cộng đồng2354-0613KẾT QUẢ DI CĂN HẠCH SAU PHẪU THUẬT NẠO HẠCH CỔ DỰ PHÒNG TRONG UNG THƯ TUYẾN MANG TAI CÓ NGUY CƠ CAO
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6120
<p><strong>Mục tiêu</strong><strong>: </strong>Khảo sát tỷ lệ di căn hạch cổ âm thầm và xác định một số yếu tố liên quan trong nhóm bệnh nhân ung thư tuyến mang tai nguy cơ cao có hạch cổ.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca, bệnh nhân ung thư tuyến mang tai nguy cơ cao có hạch cổ âm tính trên lâm sàng được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến mang tai kết hợp nạo hạch cổ dự phòng, tại Khoa Ngoại Đầu cổ - Tai mũi họng, Bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 1/1/2022 đến ngày 1/7/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 42 trường hợp ung thư tuyến mang tai thuộc nhóm nguy cơ cao được phẫu thuật với tuổi trung bình là 50,6 tuổi (KTC 95%: 16-80 tuổi). Tỷ lệ nữ/nam là 1,2/1. Bướu ở giai đoạn tiến triển (cT3, cT4) chiếm đa số (83,3%). Nhóm mô học nguy cơ cao chiếm 57,1%. Tỷ lệ di căn hạch xác định sau phẫu thuật là 40,5%. Có mối liên quan độc lập giữa nhóm nguy cơ mô bệnh học và tỷ lệ di căn hạch cổ (p = 0,024).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Di căn hạch cổ trong ung thư tuyến mang tai thuộc nhóm nguy cơ cao có tỷ lệ cao. Cần cân nhắc nạo hạch cổ dự phòng đối với các trường hợp mô bệnh học nguy cơ cao.</p>Nguyễn Việt DũngPhan Văn MạnhTrương Thành TríNguyễn Xuân Trực
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6120MỖI LIÊN QUAN GIỮA VỊ TRÍ EO GIÁP VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM XÂM LẤN, DI CĂN HẠCH CỔ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ ĐƠN Ổ
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6121
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh và đánh giá mối liên quan giữa vị trí eo giáp và các đặc điểm xân lấn, di căn hạch cổ của ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú đơn ổ.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu 261 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú đơn ổ được phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu Thanh Hóa từ tháng 4/2023 đến tháng 5/2026, 38 trường hợp u eo giáp và 223 trường hợp u thùy giáp, các đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học được thu thập và phân tích.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ xâm lấn bao ở nhóm eo giáp là 44,7% so với 18,9% ở nhóm thùy giáp (p = 0,0001); sau khi hiệu chỉnh tuổi, giới và kích thước u, vị trí eo giáp là yếu tố liên quan độc lập với xâm lấn vỏ bao (aOR = 3,54; 95% CI: 1,70-7,38; p = 0,001), tỷ lệ di căn hạch bạch huyết trung tâm nhóm eo giáp là 52,6% (20/38 ca) và 48,2% (96/199 ca) ở nhóm thùy giáp (p = 0,620); di căn > 5 hạch ỏ nhóm eo giáp là 18,4% và nhóm thùy giáp là 6,0% (p = 0,018).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Trong ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú đơn ổ, vị trí eo giáp liên quan độc lập với xâm lấn vỏ bao, liên quan với gánh nặng (> 5 hạch) di căn hạch trung tâm.</p>Lưu Xuân ThôngNguyễn Quang HưngPhạm Anh HảiNguyễn Tuấn Anh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6121ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BỘ DỮ LIỆU CHUYỂN ĐỔI GIỮA HU-RED ĐẾN VIỆC TÍNH TOÁN LIỀU ĐIỀU TRỊ ĐỐI VỚI CÁC BỆNH NHÂN UNG THƯ HẠ HỌNG - THỰC QUẢN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6125
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá sự khác biệt về phân bố liều và các đặc trưng vật lý của kế hoạch xạ trị điều biến liều (IMRT) cho bệnh nhân ung thư hạ họng - thực quản khi sử dụng hai bộ dữ liệu chuyển đổi CT sang mật độ điện tử tương đối (HU-RED) là Nghean2022 và Rocsboard02.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu trên dữ liệu CT mô phỏng của 23 bệnh nhân ung thư hạ họng - thực quản đã được lập kế hoạch điều trị IMRT bằng bộ dữ liệu HU-RED Nghean2022. Toàn bộ các kế hoạch được lập lại trên phần mềm Monaco v5.11.03 với bộ dữ liệu Rocsboard02, trong khi giữ nguyên các thông số điều trị ban đầu. Các chỉ số đánh giá gồm độ bao phủ (Q), độ phù hợp (CI), độ đồng nhất (HI), liều hấp thụ tại các cơ quan nguy cấp (OARs), số đơn vị monitor (MU) và thời gian phát tia (Beam-on Time).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Hai bộ dữ liệu HU-RED tạo ra chất lượng phân bố liều tương đương đối với thể tích điều trị. So với Nghean2022, bộ dữ liệu Rocsboard02 có xu hướng làm giảm số MU và thời gian phát tia khoảng 1,4%. Liều hấp thụ tại các cơ quan nguy cấp như tủy sống, tuyến mang tai, tim và phổi chỉ khác biệt ở mức rất nhỏ (< 2%). Đối với toàn bộ các chỉ số được khảo sát, sự khác biệt giữa hai bộ dữ liệu đều không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Việc sử dụng bộ dữ liệu HU-RED Rocsboard02 hoặc Nghean2022 cho lập kế hoạch IMRT ở bệnh nhân ung thư hạ họng - thực quản cho kết quả tương đương về chất lượng phân bố liều cũng như các đặc trưng vật lý của kế hoạch điều trị.</p>Hoàng Hữu TháiNguyễn Văn ĐăngPhạm Quang TrungPhan Thị Thu ThảoNguyễn Quang DũngNguyễn Hương Loan
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6125ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI UNG THƯ THỰC QUẢN GIAI ĐOẠN II-IVA BẰNG PHÁC ĐỒ FOLFOX TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6126
<p><strong>Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của phác đồ hóa xạ trị đồng thời FOLFOX ở bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn II-IVA.</strong></p> <p><strong>Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 45 bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn II-IVA được điều trị bằng hóa xạ trị đồng thời với phác đồ FOLFOX tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 1/2023 đến tháng 9/2025. </strong></p> <p><strong>Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 63,5 ± 6,5 tuổi; nam giới chiếm 95,6%. Ung thư biểu mô vảy chiếm 93,3%; u chủ yếu ở 1/3 giữa thực quản (48,9%). Phần lớn bệnh nhân ở giai đoạn III-IVA (91,1%), với T3-T4 chiếm 86,7% và ECOG 0-1 chiếm 93,4%. Sau hóa xạ trị, tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 77,8% và tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 91,1%. Sau hóa chất bổ trợ, tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 73,3%, tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 93,3%; tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn tăng từ 11,1% lên 26,7%. Trung vị PFS là 10,0 ± 2,1 tháng (95% CI: 5,8-14,2), với tỷ lệ PFS 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng lần lượt là 72,8%, 46,7% và 30,3%. Độc tính chủ yếu ở mức độ 1-2; hạ bạch cầu trung tính độ 3 chiếm 4,4%, viêm thực quản độ 3 chiếm 6,7%; không ghi nhận độc tính độ 4 hoặc suy thận.</strong></p> <p><strong>Kết luận: Hóa xạ trị đồng thời với phác đồ FOLFOX cho hiệu quả đáp ứng và kiểm soát bệnh khả quan ở người bệnh ung thư thực quản ở giai đoạn II-IVA, với độc tính chấp nhận được và có thể kiểm soát trong thực hành lâm sàng.</strong></p>Thái Đình HiếuNguyễn Viết BìnhNguyễn Thị Hiếu
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6126BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN GIAI ĐOẠN TÁI PHÁT/ DI CĂN BẰNG LIỆU PHÁP MIỄN DỊCH PEMBROLIZUMAB TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6127
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị ung thư thực quản giai đoạn tái phát/ di căn bằng phác đồ có Pembrolizumab tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 19 người bệnh được chẩn đoán ung thư thực quản giai đoạn tái phát/di căn được điều trị toàn thân bằng phác đồ có Pembrolizumab tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng tháng 03 năm 2023 đến tháng 05 năm 2026.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Độ tuổi trung bình là 61,4 tuổi. 36,8% người bệnh có di căn xa tại thời điểm chẩn đoán. 73,7% người bệnh điều trị bước 1. Sau 6 chu kì Pembrolizumab, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 71,4%; tỷ lệ đáp ứng chung (ORR) là 42,8%. Trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (mPFS) là 9,2 tháng. Các độc tính hay gặp là hạ bạch cầu trung tính (63,2%) và thiếu máu (57,9%), chủ yếu gặp ở độ 1 và độ 2.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phác đồ có chứa Pembrolizumab cho thấy có hiệu quả và độc tính có thể chấp nhận được ở người bệnh ung thư thực quản giai đoạn tái phát/ di căn.</p>Nguyễn Viết BìnhNguyễn Thị HiếuĐậu Duy ToànHồ Trúc ChiDoãn Thị Hằng
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6127KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC 2 UNG THƯ BIỂU MÔ VẢY THỰC QUẢN BẰNG PHÁC ĐỒ DOCETAXEL TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6128
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị bước 2 ung thư biểu mô vảy thực quản bằng phác đồ Docetaxel tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 61 người bệnh ung thư biểu mô vảy thực quản được điều trị bước 2 bằng phác đồ Docetaxel từ tháng 1/2023 đến tháng 12/2025 tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của người bệnh là 59,79 ± 6,7 tuổi. Tỷ lệ người bệnh hoàn thành 6 chu kỳ hóa chất đạt 45,9%. Tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 49,2%, trong đó đáp ứng một phần chiếm 32,8%. Các yếu tố phân độ T, giai đoạn bệnh, số cơ quan di căn, vị trí di căn là những yếu tố liên quan đến đáp ứng điều trị với p < 0,05. Độc tính huyết học thường gặp nhất là hạ bạch cầu đa nhân trung tính, trong đó hạ bạch cầu độ 3-4 chiếm 14,8% và 8,2% người bệnh có sốt hạ bạch cầu. Các tác dụng không mong muốn khác chủ yếu gặp ở độ 1-2.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Docetaxel đơn trị liệu là một trong những chỉ định điều trị bước 2 có hiệu quả và an toàn ở người bệnh ung thư biểu mô vảy thực quản sau thất bại điều trị bước 1.</p>Hoàng Thị XuânHoàng Thị XuânVõ Thị ChungNguyễn Viết BìnhVương Thị ThươngNguyễn Thị Giang
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6128PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP: TỪ NỀN TẢNG HÀN LÂM ĐẾN THỰC HÀNH HIỆN ĐẠI
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6129
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Tổng hợp các nguyên lý cốt lõi của phẫu thuật tuyến giáp hiện đại, cập nhật những tiến bộ công nghệ và bàn luận các vấn đề còn đang được quan tâm trong thực hành lâm sàng.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Bài tổng quan tường thuật được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các hướng dẫn thực hành lâm sàng, tài liệu chuyên khảo và các nghiên cứu đăng tải trên PubMed liên quan đến phẫu thuật tuyến giáp và giải phẫu ngoại khoa.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Những tiến bộ như dụng cụ năng lượng, theo dõi thần kinh trong mổ, hiện hình huỳnh quang cận hồng ngoại và các kỹ thuật ít xâm lấn đã góp phần nâng cao tính an toàn của phẫu thuật. Tuy vậy, việc nhận diện và bảo tồn thần kinh thanh quản quặt ngược, nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên và tuyến cận giáp vẫn là các yếu tố quyết định kết quả chức năng sau mổ.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Hiệu quả của phẫu thuật tuyến giáp hiện đại được xây dựng trên sự kết hợp giữa hiểu biết giải phẫu, kinh nghiệm của phẫu thuật viên và các công nghệ hỗ trợ. Trong đó, tuân thủ các nguyên tắc ngoại khoa cơ bản vẫn là yếu tố cốt lõi để bảo đảm cuộc mổ an toàn và đạt kết quả điều trị tối ưu.</p>Hà Văn NgọNgô Vi TiếnNguyễn Hồng Minh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6129HIỆU QUẢ HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TIỀN PHẪU UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 GIỮA VÀ 1/3 DƯỚI GIAI ĐOẠN II-IVA BẰNG KỸ THUẬT XẠ TRỊ ĐIỀU BIẾN LIỀU THEO THỂ TÍCH HÌNH CUNG
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6130
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả bước đầu và tính an toàn của hóa xạ trị tiền phẫu với kỹ thuật xạ trị điều biến liều theo thể tích hình cung ở bệnh nhân ung thư thực quản biểu mô vảy 1/3 giữa và 1/3 dưới giai đoạn II-IVA.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Mô tả có theo dõi dọc trên 71 bệnh nhân được hóa xạ trị tiền phẫu phác đồ Paclitaxel-Carboplatin, kỹ thuật xạ trị điều biến liều theo thể tích hình cung.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 56,1; 100% bệnh nhân là nam giới; giai đoạn III chiếm 53,5%; tỷ lệ di căn hạch (N+) trước điều trị là 70,4%. Sau hóa xạ trị, tỷ lệ đáp ứng chung là 90,1%; tỷ lệ phẫu thuật được sau hóa xạ trị là 91,5%; tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học là 32,4%. Giai đoạn u và mức độ đáp ứng sau hóa xạ trị có mối tương quan tới khả năng đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hóa xạ trị tiền phẫu bằng kỹ thuật xạ trị điều biến liều theo thể tích hình cung cho ung thư thực quản 1/3 giữa và 1/3 dưới biểu mô vảy là phác đồ hiệu quả, dung nạp tốt, mang lại tỷ lệ đáp ứng cao.</p>Vũ Xuân HuyNguyễn Xuân HậuVõ Văn XuânHoàng Minh LýPhùng Thùy Dương
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6130KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ PHÁC ĐỒ GEMCITABINE ĐƠN CHẤT TRONG UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG DI CĂN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6131
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả sống thêm và tính an toàn của Gemcitabine đơn chất dùng duy trì ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng di căn đã đạt kiểm soát bệnh sau hóa trị chứa Platinum tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu, có theo dõi dọc, thực hiện trên 46 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng di căn được điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2026. Sau khi đạt đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần hoặc bệnh ổn định với hóa trị chứa Platinum, bệnh nhân tiếp tục điều trị bằng Gemcitabine liều 1250 mg/m² vào ngày thứ 1 và ngày thứ 8 của chu kỳ 21 ngày, cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không thể chấp nhận được. Đáp ứng của khối u và các biến cố bất lợi lần lượt được được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 và CTCAE 5.0; PFS và OS được ước tính bằng phương pháp Kaplan-Meier.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân là 52,80 ± 13,76; nam giới chiếm 78,3% và mô bệnh học thể không biệt hóa chiếm 93,5%. Tái phát di căn gặp ở 69,6% trường hợp; 87% có di căn đa ổ. Sau hóa trị tấn công, tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 78,3%. Trung vị số chu kỳ Gemcitabine duy trì là 3,5 (3-20). Trung vị PFS đạt 17,45 tháng; tỷ lệ PFS tại 6, 12 và 24 tháng lần lượt là 89,1%, 73,9% và 42,4%. Trung vị OS chưa đạt; tỷ lệ OS tương ứng là 97,8%, 93,5% và 82%. Độc tính độ 3-4 xuất hiện ở 41,3% bệnh nhân, chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính (37%); không ghi nhận độc tính ngoài huyết học độ 3-4.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Gemcitabine đơn chất duy trì cho thấy kết quả sống thêm khả quan và độc tính có thể kiểm soát ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng di căn đã kiểm soát bệnh sau hóa trị chứa Platinum.</p>Nguyễn Thị Hoài ThươngNguyễn Viết BìnhNguyễn Thị NgaHồ Duy Tuấn Anh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6131KẾT QUẢ XẠ TRỊ KỸ THUẬT ĐIỀU BIẾN LIỀU KẾT HỢP ĐỒNG THỜI HOÁ TRỊ PHÁC ĐỒ PACLITAXEL – CARBOPLATIN BỆNH UNG THƯ THỰC QUẢN 1/3 TRÊN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6132
<p><em>Mục tiêu</em>: Đánh giá kết quả xạ trị kỹ thuật điều biến liều (IMRT) kết hợp đồng thời hoá trị phác đồ Paclitaxel – Carboplatin (PC) bệnh ung thư thực quản (UTTQ) 1/3 trên tại Bệnh viện ung bướu Nghệ An.</p> <p><em>Đối tượng và phương pháp</em>: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 32 bệnh nhân ung thư thực quản 1/3 trên giai đoạn II-IVa được điều trị xạ trị kỹ thuật IMRT với hoá trị phác đồ Paclitaxel -Carboplatin từ tháng 01/2022 đến tháng 06/2026. Đánh giá đáp ứng sau điều trị theo tiêu chuẩn RECIST 1.1. Đánh giá độc tính, tác dụng phụ sớm theo tiêu chuẩn CTCAE 5.0.</p> <p><em>Kết quả</em>: Có 78,1% bệnh nhân cải thiện triệu chứng nuốt nghẹn. Đáp ứng hoàn toàn 18,8%, một phần: 59,4%, ổn định: 12,5% và tiến triển 9,4%. Có sự khác biệt về tỷ lệ đáp ứng theo giai đoạn T và giai đoạn bệnh (<em>p</em><0.05). Các tác dụng phụ sớm chủ yếu độ 1-2 bao gồm viêm da 59,4%, viêm thực quản 84,4%, giảm huyết sắc tố 18,8%, hạ bạch cầu trung tính 15,6%.</p> <p><em>Kết luận</em>: Phác đồ xạ trị kỹ thuật IMRT kết hợp phác đồ Paclitaxel - Carboplatin trên bệnh nhân UTTQ 1/3 trên đem lại những hiệu quả về đáp ứng lâm sàng và cận lâm sàng, tác dụng phụ ít và có thể kiểm soát.</p>Nguyễn Hải HoàngNguyễn Văn CôngTrần Thị Ánh NgọcNguyễn Tiến ThượngPhạm Thị Nhung
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6132ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỐNG THÊM 5 NĂM VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN III ĐIỀU TRỊ HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6134
<p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn III bằng hóa xạ trị đồng thời và một số yếu tố tiên lượng.</p> <p><strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </em></strong>Nghiên cứu hồi cứu có theo dõi dọc trên 119 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn III được điều trị hóa xạ trị đồng thời tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 3/2019 đến tháng 12/2022.</p> <p><strong><em>Kết quả: </em></strong>Tuổi trung bình 59,3 ± 9; tỷ lệ nam/nữ 5/1; giai đoạn IIIB chiếm 50,4%. Tỷ lệ đáp ứng chung đạt 98,3% (đáp ứng hoàn toàn 17,6%). Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) là 12 tháng; trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (OS) là 26 tháng; tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 31,5%. Kích thước u ≤ 5 cm kéo dài trung vị PFS (16 tháng, p = 0,010) và OS (39 tháng, p = 0,041). Giai đoạn IIIA có trung vị PFS và OS (21 và 48 tháng) cao hơn giai đoạn IIIB và IIIC. Tác dụng phụ chủ yếu ở độ 1–2; độ 3–4 chủ yếu là hạ bạch cầu và hạ tiểu cầu.</p> <p><strong><em>Kết luận: </em></strong>Hóa xạ trị đồng thời ở bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn III mang lại thời gian sống thêm dài hạn khả quan. Kích thước u nhỏ (≤ 5 cm) và giai đoạn bệnh sớm (IIIA) là những yếu tố tiên lượng giúp kéo dài thời gian sống thêm.</p>Nguyễn Hải HoàngLê Sỹ LâmNguyễn Thị NgaNguyễn Văn TiếnVũ Đình DươngNguyễn Tiến Thượng
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6134BIỂU HIỆN p-STAT3 TRONG MÔ UNG THƯ DẠ DÀY VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI MỘT SỐ CHỈ SỐ CẬN LÂM SÀNG
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6135
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định biểu hiện p-STAT3 trong mô ung thư dạ dày và đánh giá mối liên quan giữa p-STAT3 với một số chỉ số cận lâm sàng ở bệnh nhân nghiên cứu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả phân tích trên 68 bệnh nhân ung thư biểu mô dạ dày. Biểu hiện p-STAT3 được đánh giá bằng hóa mô miễn dịch. Các chỉ số cận lâm sàng được so sánh giữa các nhóm bằng phép kiểm Mann-Whitney U test.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ biểu hiện p-STAT3 dương tính là 32,35%. Nhóm p-STAT3 dương tính có nồng độ hemoglobin thấp hơn so với nhóm âm tính [119,5 g/l (103,75-139,25) so với 136,0 g/l (125,75-148,25); p = 0,020] và hematocrit thấp hơn [0,36 l/l (0,31-0,41) so với 0,41 l/l (0,37-0,44); p = 0,019]. Số lượng hồng cầu có xu hướng giảm nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,082). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa đối với các chỉ số hóa sinh máu khác (p > 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> p-STAT3 được biểu hiện ở 32,35% trường hợp ung thư dạ dày. Biểu hiện p-STAT3 liên quan đến giảm hemoglobin và hematocrit trên bệnh nhân ung thư dạ dày.</p>Nguyễn Thị Mai LyTrần Doanh HiệuLê Thanh SơnBùi Khắc Cường
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6135BÁO CÁO CA LÂM SÀNG U NHẦY XƠ DẠNG ĐÁM RỐI Ở DẠ DÀY
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6136
<p><strong><em>Bối cảnh:</em></strong> U nhầy xơ dạng đám rối (Plexiform fibromyxoma) là một u trung mô hiếm gặp của dạ dày, được Tổ chức Y tế Thế giới đưa vào phân loại u hệ tiêu hóa từ năm 2010. U thường xuất hiện ở hang vị – môn vị và dễ bị chẩn đoán nhầm với u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) do biểu hiện lâm sàng, nội soi và hình ảnh học không đặc hiệu. <strong><em>Ca lâm sàng:</em></strong> Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 66 tuổi nhập viện vì xuất huyết tiêu hóa trên và đau bụng âm ỉ. Nội soi dạ dày ghi nhận tổn thương dạng sùi gây hẹp lòng môn vị. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày. Mô bệnh học sau phẫu thuật cho thấy khối u gồm các tế bào hình thoi đến bầu dục tăng sinh trên nền mô đệm nhầy, sắp xếp dạng đám rối, giàu mao mạch và phát triển xen kẽ lớp cơ. Kết quả hóa mô miễn dịch ghi nhận tế bào u dương tính với SMA và âm tính với CD117, DOG1, CD34, S100 và Desmin. Kết hợp đặc điểm hình thái học và hóa mô miễn dịch phù hợp với chẩn đoán u nhầy xơ dạng đám rối ở dạ dày. Đây là một thực thể bệnh lý hiếm gặp với đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học dễ nhầm lẫn với các u trung mô khác, đặc biệt là GIST. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Qua trường hợp này, chúng tôi nhấn mạnh vai trò quan trọng của mô bệnh học và hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán xác định, chẩn đoán phân biệt cũng như định hướng điều trị phù hợp đối với các khối u trung mô của dạ dày.</p>Lê Thị LinhTrần Như Tùng
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6136BÁO CÁO CA LÂM SÀNG U XƠ CANXI HÓA Ở DẠ DÀY
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6137
<p><strong><em>Bối cảnh:</em></strong> U xơ canxi hóa là một u trung mô hiếm gặp, lành tính, có thể xuất hiện ở nhiều cơ quan khác nhau nhưng ít gặp tại dạ dày. Đặc điểm lâm sàng, nội soi và hình ảnh học của u xơ canxi hoá không đặc hiệu, dễ nhầm lẫn với các u dưới niêm mạc khác của dạ dày, đặc biệt là u mô đệm đường tiêu hóa. <strong><em>Ca lâm sàng:</em></strong> Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 24 tuổi phát hiện tình cờ tổn thương qua nội soi dạ dày. Bệnh nhân được cắt u dưới niêm mạc qua nội soi. Mô bệnh học cho thấy khối u ranh giới rõ gồm các tế bào hình thoi sắp xếp thành bó ngắn hoặc cuộn xoáy trên nền mô đệm xơ collagen hóa nổi bật, kèm thâm nhiễm lympho, tương bào và các ổ lắng đọng calci, không ghi nhận hoại tử hay tăng hoạt động phân bào. Hóa mô miễn dịch cho kết quả SMA, Desmin, CD117, DOG1, CD34, S100 và ALK-1 âm tính; chỉ số Ki67 khoảng 1%.<strong><em> Kết luận:</em></strong> Báo cáo này góp phần bổ sung thêm dữ liệu về u xơ canxi hóa dạ dày - một bệnh lý hiếm gặp. Việc nhận diện các đặc điểm mô bệnh học điển hình và kiểu hình hóa mô miễn dịch đặc trưng có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán xác định cũng như chẩn đoán phân biệt với các u trung mô khác của dạ dày.</p>Lê Thị LinhNguyễn Như TùngNguyễn Phúc Thục Uyên
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6137BÁO CÁO CA LÂM SÀNG U TUYẾN HẬU THẬN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6138
<p><strong><em>Bối cảnh:</em></strong> U tuyến hậu thận là khối u biểu mô thận hiếm gặp, chiếm dưới 1% các u biểu mô thận ở người trưởng thành. Mặc dù được xếp vào nhóm u lành tính, tổn thương này thường bị chẩn đoán nhầm với ung thư biểu mô tế bào thận do không có đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học đặc hiệu. <strong><em>Ca lâm sàng:</em></strong> Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 28 tuổi được phát hiện khối u thận phải kích thước 5,2 cm trên chụp cắt lớp vi tính, có đặc điểm hình ảnh gợi ý ung thư biểu mô tế bào thận thể nhú. Bệnh nhân được chỉ định cắt thận phải triệt để. Kết quả mô bệnh học ghi nhận khối u gồm các tế bào nhỏ, tương đối đồng dạng, sắp xếp thành ống tuyến nhỏ, cấu trúc vi nang và hình ảnh cầu thận giả. Hóa mô miễn dịch cho thấy WT1, BRAF V600E và Vimentin dương tính; CK7 và ALK âm tính – kiểu hình phù hợp với chẩn đoán u tuyến hậu thận. <strong><em>Kết luận:</em></strong> U tuyến hậu thận là thực thể bệnh lý hiếm gặp, khó chẩn đoán trước phẫu thuật do đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học không đặc hiệu. Mô bệnh học kết hợp hóa mô miễn dịch đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt với các u biểu mô thận khác. Nhận diện chính xác tổn thương giúp tránh chẩn đoán quá mức và lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp.</p>Lê Thị LinhNguyễn Như TùngNguyễn Phúc Thục Uyên
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6138KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HOÁ CHẤT OXALIPLATIN - 5FU BỔ TRỢ TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN II - III TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU THANH HOÁ
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6139
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả và tác dụng không mong muốn của phác đồ Oxaliplatin – 5FU trên bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn II – III tại Bệnh viện Ung bướu Thanh Hóa. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 45 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn II–III, đã phẫu thuật triệt căn và hóa trị bổ trợ Oxaliplatin – 5FU từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 08 năm 2025 tại bệnh viện Ung bướu Thanh Hóa. <strong>Kết quả:</strong> Thời gian nghiên cứu trung bình là 23±7,89 tháng, tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm 73,1%; thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 34,63 ± 1,47 tháng; Tỷ lệ sống thêm không bệnh 3 năm là 54,7%; thời gian sống thêm không bệnh trung bình đạt 30,87 ± 1,80 tháng. Tác dụng không mong muốn chủ yếu ở độ 1-2. <strong>Kết luận:</strong> Phác đồ Oxaliplatin – 5FU bổ trợ trong ung thư dạ dày giai đoạn II – III tại bệnh viện Ung bướu Thanh Hóa an toàn và có hiệu quả.</p>Nguyễn Thị TrangVũ Thị HằngLê Thị Lan Hương
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6139TÌNH TRẠNG BỘC LỘ PROTEIN SỬA CHỮA GHÉP CẶP SAI DNA CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN ĐẠI TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TỈNH THANH HÓA
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6140
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định trình trạng bộc lộ protein MMR ở người bệnh ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng và một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả trên 208 người bệnh ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng tại Bệnh viện Ung Bướu tỉnh Thanh Hóa từ tháng 1/2024 đến tháng 5/2026.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ dMMR là 12,5%, đa phần thuộc nhóm mất bộc lộ cặp MLH1-PMS2 (42,3%), tiếp đến là mất bộc lộ cặp MSH2-MSH6 (30,8%). Tỷ lệ dMMR: ở nhóm dưới 50 tuổi cao gấp 4 lần nhóm 50-70 tuổi và gấp 6,3 lần nhóm trên 70 tuổi; ở nhóm u kích thước ≥ 5 cm cao gấp 4,7 lần so với nhóm u < 5 cm, ở nhóm kém biệt hóa cao gấp 6 lần nhóm biệt hóa vừa và nhóm u chế nhầy cao gấp 3 lần so với type thông thường. dMMR cũng hay gặp ở các u tại đại tràng ngang và đại tràng phải hơn so với đại tràng trái và trực tràng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Mất bộc lộ protein MMR có khả năng xuất hiện cao hơn ở những người bệnh trẻ, khối u kích thước ≥ 5 cm, type mô bệnh học chế nhầy và độ mô học kém biệt hóa.</p>Nguyễn Thị ThủyNguyễn Thị NgầnTrần Ngọc ÁnhHoàng Trung ThôngMai Thị Thùy
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6140ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHÁC ĐỒ XELOX PHỐI HỢP BEVACIZUMAB TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚC MỘT UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG GIAI ĐOẠN IV TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6141
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả của phác đồ XELOX kết hợp Bevacizumab trong điều trị bước một bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn IV tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu có theo dõi dọc trên 54 bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn IV được điều trị phác đồ XELOX kết hợp Bevacizumab tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 1/2022 đến tháng 9/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ và kiểm soát bệnh sau 4 chu kỳ lần lượt là 50% và 90,7%; sau 8 chu kỳ là 34,8% và 71,7%. Trung vị PFS đạt 9,8 tháng (95% CI: 7,3-11,0 tháng); tỷ lệ PFS tại 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 77,3% và 33%. PFS cải thiện có ý nghĩa ở nhóm biệt hóa cao và vừa so với kém/nhầy, nhẫn (10,6 tháng so với 6,7 tháng; p = 0,02) và nhóm di căn 1 cơ quan so với di căn ≥ 2 cơ quan (9,8 tháng so với 5,1 tháng; p = 0,012). Tác dụng phụ chủ yếu độ 1-2, thường gặp hội chứng bàn tay, bàn chân (37%), bệnh lý thần kinh ngoại biên (35,2%), hạ bạch cầu (33,3%); tăng huyết áp liên quan Bevacizumab 11,1%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phác đồ XELOX phối hợp Bevacizumab cho thấy hiệu quả trong kiểm soát bệnh và kéo dài PFS ở điều trị bước một ung thư đại trực tràng giai đoạn IV. Mô bệnh học kém biệt hóa/nhầy, nhẫn và số lượng cơ quan di căn là yếu tố tiên lượng PFS. Độc tính chủ yếu độ 1-2, kiểm soát được.</p>Nguyễn Thị HàNgô Trí DiễmDương Đình PhùngTrần Thị Anh ThơNguyễn Thị HàHồ Thị Tú Anh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6141ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG MẤT ỔN ĐỊNH VI VỆ TINH VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6142
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định tỷ lệ mất ổn định vi vệ tinh (MSI) và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đột biến gen và giai đoạn bệnh ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng (UTĐTT) tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu, thực hiện tại khoa Nội III, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1/1/2023 đến tháng 30/6/2026, trên 174 bệnh nhân UTĐTT được đánh giá tình trạng MSI/MMR (chọn mẫu thuận tiện). Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, sử dụng kiểm định Chi-square/Fisher's Exact test, ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Trong 174 bệnh nhân, tỷ lệ MSI-H/dMMR là 14,4% (25 ca); tỷ lệ đột biến RAS là 49,2% (KRAS 47,4%, NRAS 1,8%) và đột biến BRAF là 5,3%. Đa số bệnh nhân ở giai đoạn II (42,0%) và III (30,5%); u đại tràng trái chiếm tỷ lệ cao nhất (45,4%), thể mô bệnh học chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến (92,0%). MSI-H/dMMR có liên quan có ý nghĩa với nhóm tuổi dưới 50 (28,6% so với 12,4% ở nhóm ≥ 50 tuổi, p = 0,048), với vị trí u đại tràng phải (34,1% so với 7,6% ở đại tràng trái và 9,3% ở trực tràng, p = 0,001), và với giai đoạn sớm I-II (19,8% so với 8,4% ở giai đoạn III-IV, p = 0,033). Không ghi nhận liên quan có ý nghĩa giữa MSI với giới tính, ECOG, nồng độ CEA, dạng tổn thương nội soi, thể mô bệnh học, độ biệt hóa, đột biến RAS hay BRAF (p > 0,05 cho tất cả).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ MSI-H/dMMR trong UTĐTT tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An là 14,4%, liên quan rõ rệt với tuổi trẻ, vị trí u đại tràng phải và giai đoạn bệnh sớm — ủng hộ vai trò của xét nghiệm MSI thường quy trong định hướng điều trị miễn dịch và sàng lọc hội chứng Lynch.</p>Phan Đình ViệtNguyễn Thị MaiPhan Thị Giang
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6142ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ TIỀN MÃN KINH GIAI ĐOẠN I ̶ III ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT BỔ TRỢ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÀ TĨNH
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6143
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các tác dụng không mong muốn ở bệnh nhân ung thư vú tiền mãn kinh giai đoạn I ̶ III điều trị nội tiết bổ trợ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh.</p> <p><strong>Đối tượng và</strong> <strong>phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu có theo dõi dọc trên 40 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I ̶ III có thụ thể nội tiết dương tính, được điều trị nội tiết bổ trợ Goserelin phối hợp Tamoxifen hoặc Aromatase inhibitors (AIs) từ 01/2020 đến 09/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân là 39,48 ± 5,94 tuổi. Khối u có kích thước >2 ̶ 5 cm chiếm tỷ lệ cao nhất (55%). Vị trí thường gặp nhất là ¼ trên ngoài (42,5%). Ung thư biểu mô xâm nhập không phải loại đặc biệt chiếm ưu thế 90%, độ mô học 2 gặp nhiều nhất (72,5%). Các tác dụng không mong muốn thường gặp gồm bốc hỏa (77,5%), khô âm đạo (65%), đau xương khớp (50%), đổ mồ hôi về đêm (45%).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Liệu pháp ức chế chức năng buồng trứng bằng Goserelin kết hợp Tamoxifen hoặc AIs được dung nạp tương đối tốt. Không ghi nhận biến cố bất lợi nghiêm trọng liên quan đến điều trị.</p>Trần Thị Thanh HoaVõ Văn PhươngNguyễn Việt Hùng
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6143KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT KẾT HỢP THUỐC ỨC CHẾ CDK4/6 TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN TÁI PHÁT, DI CĂN THỤ THỂ NỘI TIẾT DƯƠNG TÍNH, HER2 ÂM TÍNH
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6144
<p><strong><em>1.Mục tiêu: </em></strong><em>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả của phác đồ nội tiết kết hợp thuốc ức chế CDK4/6 ở bệnh nhân mắc ung thư vú giai đoạn tái phát, di căn có đặc điểm thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính (HR+/HER2-).</em></p> <p><strong><em>2.Đối tượng, phương pháp: </em></strong><em>Thiết kế mô tả kết hợp giữa hồi cứu và tiến cứu (theo dõi lâm sàng và hình ảnh học) được áp dụng trên 32 ca bệnh xác định ung thư biểu mô tuyến vú tái phát, di căn có (HR+/HER2-). Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra tại Khoa Nội IV, Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng</em> <em>6/2026.</em> <em>Ngày khóa số liệu phân tích là 10/06/2026. Trung vị thời gian theo dõi là 9,7 tháng (thời gian theo dõi ngắn nhất là 3,1tháng). </em></p> <p><strong><em>3.Kết quả: </em></strong><em>Độ tuổi trung bình ghi nhận tình trạng tái phát, di căn là 58,09</em><em>. Phần lớn người bệnh có chỉ số toàn trạng tốt (ECOG 0 điểm) 78,1%, ung thư biểu mô ống xâm nhập chiếm 81.3% và 81.3% độ mô học 2. Tỷ lệ tái phát muộn (trên 1 năm kể từ lúc điều trị triệt căn) đạt 65,6%. Những cơ quan bị di căn, xâm lấn nhiều nhất bao gồm xương (56,3%), phổi (56,3%) và hệ thống hạch ngoại biên (43,8%). Tỷ lệ đáp ứng chung ORR (Overall Response Rate) của phác đồ là 37,5%; trong đó 3,1% đáp ứng bệnh hoàn toàn, đáp ứng bệnh một phần là 34,4%, bệnh giữ nguyên là 37,5%, tỷ lệ kiểm soát bệnh CBR (Clinical Benefit Rate) là 75,0%. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển PFS (</em><em>Progression-Free Survival) trung vị kéo dài đến 32,1 tháng. </em></p> <p><strong><em>4.Kết luận: </em></strong><em>Phác đồ nội tiết kết hợp thuốc ức chế CDK4/6 trên đối tượng ung thư vú tái phát, di căn (HR+/HER2-) cho thấy kết quả khả quan về tỷ lệ đáp ứng và thời gian sống thêm bệnh không tiến triển. Phác đồ thể hiện tính khả thi, dung nạp tốt và mang lại lợi ích lâm sàng tích cực trong điều kiện điều trị thực tiễn tại cơ sở.</em></p>Phạm Thị Hoàng PhượngTrần Thị DungPhan Thị Như Quỳnh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6144ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XẠ TRỊ BỔ TRỢ UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN I-III TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6145
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tỷ lệ sống thêm không bệnh tái phát tại chỗ- tại vùng, tỷ lệ sống thêm không bệnh, tỷ lệ sống thêm toàn bộ bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I-III xạ trị bổ trợ tại bệnh viện ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu, có theo dõi dọc trên 91 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I-III, được xạ trị bổ trợ sau mổ tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1/2020 đến hết tháng 12/2020.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 51,66 ± 11,41 tuổi, tỷ lệ bệnh nhân giai đoạn I là 3,3%, giai đoạn II là 69,2%, giai đoạn III là 27,5%. Tỷ lệ tái phát tại chỗ, tại vùng là 4,4%, di căn xa là 15,4%, chưa tái phát di căn là 80,2%. Tỷ lệ sống thêm không bệnh tái phát tại chỗ, tại vùng (LRRFS), tỷ lệ sống thêm không bệnh (DFS), tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS) 3 năm lần lượt là 96,4%, 77,8%, 84,5% và 5 năm lần lượt là 95%, 70,1%, 74,5%. Tỷ lệ và mức độ biến chứng muộn liên quan đến xạ trị thấp với phù tay là 5.49%, xơ phổi là 12,08% và xơ cứng thành ngực là 2,19%. Giai đoạn bệnh là yếu tố tiên lượng (HR = 0,36; CI 95%: 0,13–0,98; p = 0,046) liên quan đến thời gian sống thêm không bệnh.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Xạ trị bổ trợ là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn đối với bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I–III, tỷ lệ biến chứng điều trị thấp. Giai đoạn bệnh là yếu tố tiên lượng đến thời gian sống thêm không bệnh.</p>Trần Xuân YênNguyễn Kim ThanhPhan Xuân ThámNguyễn Hoàng Tân
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6145KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HÓA TRỊ TÂN BỔ TRỢ UNG THƯ VÚ HER2(+) BẰNG PHÁC ĐỒ HÓA TRỊ KẾT HỢP THUỐC KHÁNG HER2 TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6146
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá đáp ứng điều trị tân bổ trợ ung thư vú HER2 dương tính giai đoạn II - III, sử dụng phác đồ hóa trị kết hợp thuốc kháng Her2 tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 65 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III, HER2(+) được hóa trị liệu tiền phẫu bằng phác đồ AC-TH, TCH, AC-THP hoặc TCHP tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ T6/2023 đến T6/2026.</p> <p><strong>Kết quả: </strong> 84.6% bệnh nhân sử dụng hóa chất kết hợp Trastuzumab, 15.4% bệnh nhân sử dụng hóa chất kết hợp bộ đôi kháng HER (Trastuzumab + Pertuzumab). Phần trăm chung đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học (tpCR) - bao gồm cả khối u nguyên phát và hạch đạt 55.4%. Nhóm đơn chất bằng Trastuzumab tpCR chiếm 54.5%, trong khi đó nhóm điều trị bằng bộ đôi kháng HER tpCR chiếm 60%. Không ghi nhận sự liên quan giữa tỷ lệ tpCR với yếu tố như tuổi, giai đoạn khối u, giai đoạn bệnh, giai đoạn hạch, loại mô bệnh học, độ mô học, biểu hiện Ki-67 hay phác đồ hóa chất sử dụng.</p> <p><strong> </strong><strong>Kết luận: </strong>Hóa trị liệu tiền phẫu với thuốc kháng HER2 cho thấy tỷ lệ tpCR cao ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II–III, HER2(+). Phần lớn người bệnh đáp ứng tốt trên lâm sàng và mô bệnh học. Sự phối hợp của thuốc kháng HER2 đặc biệt là bộ đôi kháng HER làm tăng hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo an toàn.</p>Đặng Thị HiềnTrần Thị HoàiLưu Thị Phương
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6146KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HOÁ TRỊ TÂN BỔ TRỢ UNG THƯ VÚ BỘ BA ÂM TÍNH GIAI ĐOẠN II,III TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6147
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá đáp ứng điều trị tân bổ trợ ung thư vú bộ ba âm tính (TNBC) giai đoạn II, III tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 37 bệnh nhân ung thư vú TNBC giai đoạn II, III được điều trị hoá trị tân bổ trợ tại Khoa Nội 4, Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 3/2023 đến tháng 4/2026.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình là 53,1 tuổi. Nhóm tuổi từ 40-60 hay gặp nhất chiếm tỉ lệ 62,2%. Có 70,3% giai đoạn II và 29,7% giai đoạn III. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học (tpCR) - bao gồm cả khối u nguyên phát và hạch đạt 43,2%. Có mối liên quan có ý nghĩa giữa đáp ứng lâm sàng và tpCR (p <0,001). Tuy nhiên, không ghi nhận mối liên quan giữa tỷ lệ tpCR với các yếu tố khác như tuổi, giai đoạn khối u, giai đoạn hạch, loại mô bệnh học, độ mô học, Ki-67 hay phác đồ hóa chất. Các phác đồ được dung nạp tốt, độc tính không dẫn đến việc ngừng điều trị ở bất kỳ bệnh nhân nào</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hoá trị tân bổ trợ bệnh nhân ung thư vú TNBC giai đoạn II, III cho tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học tương đối cao. Đáp ứng lâm sàng là yếu tố dự báo khả năng đạt tpCR.</p>Phạm Thị Hoàng PhượngHoàng Thị HươngTrần Thị Hồng HàNguyễn Thị Thúy VânVũ Thị Mỹ Linh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6147KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ BẢO TỒN CÓ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT TẠO HÌNH TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6148
<p><strong>Mục tiêu</strong>.</p> <p> Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả điều trị ung thư vú bảo tồn có ứng dụng kỹ thuật tạo hình tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An. </p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><strong>: </strong>98 bệnh nhân nữ ung thư vú giai đoạn 0, I, II được phẫu thuật bảo tồn sử dụng các kỹ thuật tạo hình tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 1/2019 đến tháng 12/2023.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình: 47 tuổi. Về mô bệnh học và hóa mô miễn dịch: Ung thư biểu mô xâm nhập không phải dạng đặc biệt: 80,6%. Phân nhóm Luminal A: 35,7%. Về kỹ thuật phẫu thuật: Kỹ thuật chữ B cho u 1/4 trên ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất (34,7%). Tỷ lệ bệnh nhân được can thiệp vú đối bên: 9,2%.</p> <p>Kết quả điều trị: Các kỹ thuật tạo hình vạt tại chỗ an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp, đa số là biến chứng nhẹ. Kết quả ung thư học và thẩm mỹ: Các kỹ thuật tạo hình vạt tại chỗ vừa đảm bảo yêu cầu ung thư học vừa mang lại kết quả thẩm mỹ cao.</p> <p>Kết quả cụ thể:. Tỷ lệ tái phát: Tái phát tại chỗ và tại vùng: 4,2%. Di căn xa: 5,2%. Sống thêm: Trung vị thời gian sống thêm không bệnh (DFS): 45,4 tháng. Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (OS): 45,6 tháng. </p> <p>Kết quả thẩm mỹ: Tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả thẩm mỹ đẹp và tốt sau 2 năm: 81,1%. Mức độ hài lòng về vú sau 2 năm cao.</p> <p><strong>Kết luận: </strong> </p> <p> </p> <p>Tóm tắt có lỗi lặp từ 'Chúng tôi tôi'. Đây là lỗi hình thức dễ sửa nhưng cần rà kỹ vì nằm ngay phần đầu bài.</p> <p> </p> <p>Kết luận dùng cụm 'kỹ thuật mới, tiên tiến' mang sắc thái quảng bá hơn là khoa học. Đề nghị chuyển sang ngôn ngữ trung tính, dựa trên kết quả cụ thể như biến chứng, bờ diện cắt, tái phát và điểm thẩm mỹ.</p>Trần Bá KiênHồ Công MinhHồ Văn Thành
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6148UNG THƯ HẮC TỐ ÂM ĐẠO NGUYÊN PHÁT: BÁO CÁO HAI CA LÂM SÀNG VÀ TỔNG QUAN Y VĂN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6149
<p><strong>Bối cảnh:</strong> Ung thư hắc tố (melanoma) âm đạo nguyên phát là bệnh lý ác tính hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 0,3-0,8% tổng số các trường hợp melanoma và dưới 3% các u ác tính tại âm đạo. Do đặc điểm giàu mạng lưới mạch máu và bạch huyết của vùng âm đạo, bệnh thường tiến triển xâm lấn nhanh, dễ di căn và có tiên lượng rất xấu với tỷ lệ sống thêm 5 năm thấp (dao động từ 8,4-25%).</p> <p><strong>Trình bày ca bệnh:</strong> Chúng tôi báo cáo hai ca lâm sàng được chẩn đoán melanoma nguyên phát ở âm đạo tại Bệnh viện K cơ sở 1. Ca lâm sàng 1: bệnh nhân nữ 52 tuổi, nhập viện với khối u thành sau âm đạo kích thước 2 × 3 cm. Bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt tử cung triệt căn, cắt hai phần phụ, cắt toàn bộ âm đạo và nạo vét hạch chậu hai bên. Kết quả hóa mô miễn dịch xác nhận melanoma ác tính, độ sâu Breslow 4 mm, diện cắt và hạch vùng âm tính. Hiện tại, bệnh nhân ổn định sau 12 tháng theo dõi định kỳ. Ca lâm sàng 2: bệnh nhân nữ 38 tuổi, có khối u kích thước 38 × 39 mm ở 1/3 giữa âm đạo. Bệnh nhân được mổ mở cắt toàn bộ tử cung, toàn bộ âm đạo, nạo vét hạch chậu bẹn và tạo hình bằng vạt mạc nối lớn. Kết quả mô bệnh học ghi nhận độ sâu Breslow khoảng 30 mm, diện cắt âm đạo còn tế bào u tại chỗ. Bệnh nhân hiện đang điều trị bổ trợ bằng liệu pháp miễn dịch Pembrolizumab (200 mg mỗi 3 tuần) ở chu kỳ thứ 15. Hiện tại, cả 2 bệnh nhân đều ổn định về lâm sàng, chưa ghi nhận dấu hiệu tái phát tại chỗ hay di căn xa.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật cắt rộng u nguyên phát là nền tảng trong điều trị melanoma âm đạo nguyên phát. Tuy nhiên, đối với các trường hợp nguy cơ cao, việc phối hợp liệu pháp ức chế chốt kiểm soát miễn dịch giúp kiểm soát vi di căn và cải thiện thời gian sống thêm không bệnh.</p>Nguyễn Văn HàNguyễn Văn ĐứcHoàng Đức ThànhTrần Giang ChâuHà Thành KiênNguyễn Thị HàĐào Văn Tú
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6149KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG TÁI PHÁT, DI CĂN BẰNG PHÁC ĐỒ PACLITAXEL - CARBOPLATIN - BEVACIZUMAB TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6150
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả điều trị ung thư biểu mô buồng trứng tái phát, di căn bằng phác đồ Paclitaxel - Carboplatin - Bevacizumab tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1/2020 đến tháng 9/2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 30 bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng tái phát, di căn bằng phác đồ Paclitaxel - Carboplatin - Bevacizumab tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1/2020 đến tháng 9/2025. Bệnh nhân được đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, đáp ứng điều trị, thời gian sống thêm và độc tính.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,4 ± 8,78 tuổi, nhóm 51–70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (73,3%). Ung thư biểu mô thanh dịch là thể mô bệnh học chủ yếu, chiếm 76,7% tổng số trường hợp. Tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 86,6%, trong khi tỷ lệ đáp ứng chung (ORR) là 73,4%. Cụ thể, có 8 bệnh nhân (26,7%) đạt đáp ứng hoàn toàn và 14 bệnh nhân (46,7%) đạt đáp ứng một phần. Trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) là 15,25 tháng. PFS không có mối liên quan có ý nghĩa với nhóm tuổi, toàn trạng hoặc tình trạng phẫu thuật khi tái phát. Về tính an toàn, hạ bạch cầu hạt là độc tính trên hệ tạo huyết thường gặp nhất, đa số ở mức độ 1–2, trong khi các trường hợp độ 3–4 chỉ chiếm tỷ lệ thấp. Trong nhóm độc tính ngoài hệ tạo huyết, bệnh lý thần kinh cảm giác ngoại biên được ghi nhận nhiều nhất với tỷ lệ 53,3%; tuy nhiên chỉ có 2 bệnh nhân (6,7%) xuất hiện độc tính độ 3 và không ghi nhận trường hợp độ 4. Tăng huyết áp độ 1–2 xảy ra ở 3 bệnh nhân, không có trường hợp tăng huyết áp độ 3 hoặc cao hơn. Ngoài ra, 2 bệnh nhân (6,7%) xuất hiện phản vệ độ 3 liên quan đến carboplatin trong chu kỳ điều trị thứ 5 và sau đó được chuyển sang điều trị bằng cisplatin.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phác đồ Paclitaxel–Carboplatin–Bevacizumab cho thấy hiệu quả điều trị khả quan cùng với hồ sơ an toàn chấp nhận được ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng tái phát, di căn.</p>Ngô Trí DiễmLê Thị SươngNguyễn Thị Ngọc DiệpNgô Thị HồngDương Thị Lâm Oanh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6150KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG GIAI ĐOẠN III-IV BẰNG HÓA CHẤT BỔ TRỢ TRƯỚC PHÁC ĐỒ PACLITAXEL – CARBOPLATIN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6151
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá đáp ứng điều trị của bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng (UTBMBT) giai đoạn III-IV được hoá trị tân bổ trợ bằng phác đồ Paclitaxel-Carboplatin tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong> Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 50 bệnh nhân UTBMBT giai đoạn III-IV được hóa trị tân bổ trợ bằng phác đồ Paclitaxel - Carboplatin tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2026.</p> <p><strong> Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 58±7. Triệu chứng lâm sàng thường gặp là cổ chướng (82%). Phần lớn khối u kích thước ≥5cm (80%), hay gặp thể mô bệnh học Carcinoma thanh dịch độ cao (64%), 52% bệnh nhân có nồng độ CA12-5 trước điều trị >1000 U/ml. 58% bệnh nhân giai đoạn IIIC, 42% bệnh nhân ở giai đoạn IV. Tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng trên lâm sàng là 96%, trong đó 84% bệnh nhân đạt đáp ứng một phần, có 6 bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn (12%). Tỷ lệ phẫu thuật tối ưu 94%. Có mối liên quan giữa thể mô bệnh học và đáp ứng lâm sàng của phác đồ (p<0,05).</p> <p> <strong>Kết luận: </strong>Phác đồ hóa chất tân bổ trợ Paclitaxel–Carboplatin ghi nhận tỷ lệ đáp ứng điều trị là 96% và tỷ lệ đạt phẫu thuật tối ưu là 94% ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn tiến triển (III, IV) chưa thể phẫu thuật ngay.</p>Nguyễn Ngọc TúTrịnh Lê HuyDương Thị Sen
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6151KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỔ TRỢ UNG THƯ BÀNG QUANG NÔNG BẰNG GEMCITABINE NỘI BÀNG QUANG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN.
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6152
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bổ trợ bằng Gemcitabine nội bàng quang ở bệnh nhân ung thư bàng quang nông sau phẫu thuật cắt u nội soi qua niệu đạo (TURBT).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 37 bệnh nhân ung thư bàng quang nông (Ta, T1, Tis) được điều trị bằng TURBT kết hợp bơm Gemcitabine nội bàng quang tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân 65±09, nam giới chiếm đa số (89%). Triệu chứng vào viện thường gặp nhất là đái máu. Tỷ lệ tái phát chung là 24,3% (13,5% tái phát tại chỗ). Các tác dụng phụ sau bơm Gemcitabine chủ yếu nhẹ, thường gặp nhất là kích thích bàng quang, không ghi nhận biến chứng nặng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Gemcitabine nội bàng quang là phương pháp điều trị bổ trợ an toàn, hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tái phát và kéo dài thời gian sống thêm không tái phát ở bệnh nhân ung thư bàng quang nông sau TURBT.</p>Dương Thị SenNguyễn Ngọc TúPhạm Thị Lê
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6152QUẢN LÝ BIẾN CHỨNG VIÊM PHỔI KẼ LIÊN QUAN ĐẾN THUỐC ỨC CHẾ ĐIỂM KIỂM SOÁT MIỄN DỊCH Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ THỰC QUẢN: TỔNG QUAN Y VĂN VÀ 3 TÌNH HUỐNG LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN K
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6153
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Tổng hợp các bằng chứng cập nhật về dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và chỉ định sử dụng lại thuốc miễn dịch ở bệnh nhân viêm phổi kẽ liên quan đến thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Thực hiện tổng quan tường thuật trên cơ sở tìm kiếm các nghiên cứu được công bố từ năm 2018-2026. Ba ca lâm sàng điều trị tại Bệnh viện K minh họa cho các tình huống thường gặp trong thực hành.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Viêm phổi kẽ liên quan đến thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch có biểu hiện lâm sàng và hình ảnh học rất đa dạng. Corticosteroid vẫn là nền tảng điều trị. Quyết định sử dụng lại thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch cần được cá thể hóa.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Mặc dù hiếm gặp, viêm phổi kẽ do thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch là một biến chứng làm thay đổi phác đồ điều trị, đòi hỏi phải có quy trình chẩn đoán và chiến lược điều trị phù hợp.</p>Nguyễn Thu PhươngTrần Văn ThuấnNguyễn Nhật Tân
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6153NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ KỸ THUẬT THỊ GIÁC MÁY TÍNH HỖ TRỢ PHÁT HIỆN VÀ CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6154
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của phần mềm trí tuệ nhân tạo (AI) phiên bản 1.2.1 (kết hợp thuật toán YOLOv7 và ResNet50) trong hỗ trợ chẩn đoán, phát hiện, khoanh vùng và phân loại sớm tổn thương ung thư vú trên phim nhũ ảnh tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu trên 400 ảnh nhũ ảnh định dạng DICOM của 200 bệnh nhân hồi cứu (từ 03/2024 đến 08/2024) và 200 bệnh nhân tiến cứu (từ 09/2024 đến 12/2024). Mô hình YOLOv7 để phát hiện tổn thương, ResNet50 để phân loại chi tiết khối u và vi vôi hóa. Kết quả của AI được đối chiếu với tiêu chuẩn vàng là giải phẫu bệnh.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong giai đoạn hồi cứu, độ chính xác đạt 94% (188/200 ca), độ nhạy 100% với các trường hợp ác tính (166/166 ca). Trong giai đoạn tiến cứu, độ chính xác đạt 91% (182/200 ca), đồng thời duy trì độ nhạy 100% khi nhận diện đúng toàn bộ 10 ca ác tính, không bỏ sót tổn thương nguy hiểm. Tốc độ suy luận đạt 3,6 ms/ảnh.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phần mềm AI vận hành ổn định, có độ nhạy cao, tích hợp tốt với hệ thống PACS, hỗ trợ hiệu quả trong phát hiện và sàng lọc sớm ung thư vú trên lâm sàng.</p>Phạm Vĩnh HùngNguyễn Quang TrungNguyễn Tài Bùi ĐạtHồ Đức TàiNguyễn Văn ViệtTrần Thị Mỹ TràNguyễn Bá TrungNguyễn Hoàng NamTrần Anh KhoaPhạm Đức LâmVõ Phúc Tình
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6154ĐÁNH GIÁ KẾ HOẠCH XẠ TRỊ TOÀN NÃO BẢO TỒN HỒI HẢI MÃ BẰNG KỸ THUẬT XẠ TRỊ ĐIỀU BIẾN LIỀU TRÊN PHẦN MỀM MONACO TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6155
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá chất lượng kế hoạch xạ trị toàn não bảo tồn hồi hải mã (WBRT-HA) bằng kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 31 kế hoạch xạ trị của 31 bệnh nhân di căn não được điều trị WBRT-HA trong giai đoạn 01/2021–12/2025. Kế hoạch được xây dựng trên phần mềm Monaco bằng chùm photon 6 MV, thuật toán Monte Carlo, với liều kê đơn 30 Gy/10 phân liều. Các chỉ tiêu đánh giá gồm độ bao phủ PTV (V95%, D98%, D2%), chỉ số đồng nhất (HI), chỉ số phù hợp (CI), liều đến hồi hải mã và các cơ quan nguy cấp, số đơn vị monitor (MU) và thời gian phát tia.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Các kế hoạch đều đáp ứng tiêu chuẩn về phân bố liều với Dmean và Dmax của PTV lần lượt là <strong>30,4 ± 0,7 Gy</strong> và <strong>33,8 ± 0,8 Gy</strong>; V95%, D98% và D2% tương ứng đạt <strong>96,4 ± 1,8%</strong><strong>, </strong><strong>28,5 ± 0,8 Gy</strong> và <strong>32,7 ± 0,7 Gy</strong><strong>.</strong> Giá trị HI và CI trung bình là <strong>0,14 ± 0,03</strong> và <strong>0,78 ± 0,05</strong><strong>.</strong> Liều trung bình và liều tối đa tại hồi hải mã lần lượt đạt <strong>9,8 ± 1,2 Gy</strong> và <strong>16,8 ± 0,9 Gy</strong><strong>,</strong> đáp ứng tiêu chuẩn <strong>RTOG 0933</strong><strong>.</strong> Liều tối đa đến thủy tinh thể dưới <strong>6 Gy</strong><strong>.</strong> Trung bình mỗi kế hoạch sử dụng <strong>1794 ± 380 MU</strong>, với thời gian phát tia <strong>179,4 ± 38 giây</strong><strong>.</strong></p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kỹ thuật IMRT cho phép xây dựng kế hoạch xạ trị toàn não bảo tồn hồi hải mã (WBRT-HA) đáp ứng tiêu chuẩn RTOG 0933, đảm bảo bao phủ thể tích đích và giảm liều đến hồi hải mã cùng các cơ quan nguy cấp. Kết quả cho thấy tính khả thi của kỹ thuật trong lập kế hoạch xạ trị trên phần mềm Monaco.</p>Nguyễn Thị ThưNguyễn Anh VănĐào Anh NhấtNguyễn Thăng LongPhạm Thị GiangHồ Hoàng Quốc AnhNguyễn Khắc Trung
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6155ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG BỘ DỮ LIỆU CHUYỂN ĐỔI MẬT ĐỘ ELECTRON TỚI KẾ HOẠCH TÍNH LIỀU XẠ TRỊ BỆNH NHÂN UNG THƯ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6156
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá ảnh hưởng của bộ dữ liệu chuyển đổi chỉ số CT-mật độ electron tương đối (CT-ED) được hiệu chuẩn tại cơ sở đến phân bố liều của các kế hoạch xạ trị điều biến liều (IMRT) trên phần mềm lập kế hoạch Monaco 5.11 sử dụng thuật toán Monte Carlo.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 120 kế hoạch IMRT đã điều trị lâm sàng, gồm 40 bệnh nhân ung thư vòm, 40 bệnh nhân ung thư phổi và 40 bệnh nhân ung thư trực tràng. Bộ dữ liệu CT-ED được xây dựng bằng phantom Advanced Electron Density Phantom trên hệ thống CT mô phỏng Discovery RT. Mỗi kế hoạch được tính toán lại với bộ dữ liệu CT-ED hiệu chuẩn, giữ nguyên toàn bộ thông số lập kế hoạch và chỉ thay đổi bộ dữ liệu CT-ED. Các thông số PTV, cơ quan lành, chỉ số phù hợp liều CI và Gamma Index được so sánh giữa hai kế hoạch.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Bộ dữ liệu CT-ED hiệu chuẩn có sai khác chủ yếu 49-63 HU ở vùng vật liệu mật độ thấp so với bộ dữ liệu mặc định của nhà sản xuất và được tích hợp vào hệ thống Monaco 5.11. Việc sử dụng bộ dữ liệu CT-ED hiệu chuẩn làm thay đổi có ý nghĩa thống kê hầu hết các thông số liều (p < 0,05), tuy nhiên mức sai khác chủ yếu dưới 2%. Vùng đầu cổ và vùng ngực có đa số kế hoạch sai khác PTV dưới 1%, trong khi vùng tiểu khung có mức thay đổi lớn hơn với 57,5% kế hoạch có sai khác PTV ≥ 2%. Tỷ lệ Gamma trung bình đạt 97-97,7% theo tiêu chí 2%/2 mm và trên 99,5% theo tiêu chí 3%/3 mm, đều vượt ngưỡng chấp nhận lâm sàng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bộ dữ liệu CT-ED hiệu chuẩn tại cơ sở làm thay đổi nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê đối với phân bố liều của kế hoạch IMRT, trong khi các kế hoạch xạ trị vẫn đáp ứng mọi tiêu chuẩn giới hạn liều theo RTOG và eviQ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc xây dựng và kiểm tra định kỳ bộ dữ liệu CT-ED riêng cho từng hệ thống CT mô phỏng là cần thiết nhằm bảo đảm tính nhất quán và độ tin cậy của tính toán liều trong xạ trị.</p>Âu Văn HảoĐào Anh NhấtNguyễn Cao NguyênPhan Xuân ThámNguyễn Văn ThànhNguyễn Tất Thắng
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6156MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU CHĂM GIẢM NHẸ CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN NĂM 2026
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6157
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư phổi và ung thư hệ tiêu hóa điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An năm 2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 278 người bệnh ung thư phổi, ung thư hệ tiêu hóa điều trị nội trú từ tháng 10/2025 đến tháng 5/2026 tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An. Sử dụng bộ công cụ vấn đề và nhu cầu trong chăm sóc giảm nhẹ phiên bản rút gọn.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chiếm 64,7%, trong đó 3 nhóm có tỷ lệ cần nhu cầu hỗ trợ cao nhất: về thể chất (81,3%), các hoạt động thường ngày (69,8%), )tâm lý/tinh thần (62,6%. Có mối liên quan giữa nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ với người bệnh có trình độ học vấn ≥ trung học phổ thông (p < 0,05; aOR = 1,92; 95% CI: 1,05-3,50), có thành viên trong gia đình chăm sóc (p < 0,05; aOR = 3,47; 95% CI: 1,40-8,56), người bệnh ung thư hệ tiêu hóa (p < 0,05; aOR = 2,49; 95% CI: 1,33-4,65), điều trị bằng phương pháp đa trị (p < 0,05; aOR = 5,67; 95% CI: 2,22-14,46), thời gian nằm viện trên 7 ngày (p < 0,05; aOR = 2,19; 95% CI: 1,25-3,46).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ ở người bệnh ung thư phổi và ung thư hệ tiêu hóa cao, đặc biệt ở các lĩnh vực thể chất, hoạt động thường ngày và tâm lý/tinh thần. Cần tăng cường sàng lọc và triển khai các can thiệp chăm sóc giảm nhẹ toàn diện, ưu tiên đối với người bệnh có các yếu tố liên quan đã được xác định.</p>Nguyễn Thị Mai ThơNgô Văn LâmTô Phạm Thanh BìnhĐinh Tiến PhươngLâm Lý TrườngNguyễn Thị Thúy Hằng
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6157KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ TỰ CHĂM SÓC CHO NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN SỚM
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6158
<p><strong><em>Mục tiêu</em></strong>: Dịch thuật, kiểm định tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ đánh giá tự chăm sóc cho người bệnh ung thư vú giai đoạn sớm</p> <p><strong><em>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</em></strong></p> <p>Nghiên cứu phương pháp luận được thực hiện trên người bệnh ung thư vú giai đoạn sớm tại Bệnh viện K nhằm dịch thuật, kiểm định bộ công cụ Self-Care Behavior Scale. Tính giá trị nội dung được đánh giá bằng I-CVI và S-CVI; độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha; tính giá trị cấu trúc bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA).</p> <p><strong>Kết quả:</strong></p> <p>Tính hợp lệ về nội dung (I-CVI = 1.0; S-CVI = 1.0). Thử nghiệm thí điểm với 30 bệnh nhân cho kết quả rõ ràng và khả thi. Trong 50 bệnh nhân tham gia vào giai đoạn kiểm chứng. Tính nhất quán nội bộ (hệ số Cronbach’s α = 0,873 đối với tự chăm sóc; 0,838 đối với chất lượng cuộc sống). Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy tính hợp lệ cấu trúc (KMO = 0,777; kiểm định Bartlett p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phiên bản tiếng Việt của công cụ đánh giá tự chăm sóc cho thấy tính hợp lệ và độ tin cậy, hỗ trợ việc sử dụng trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu.</p>Vương Hồng HạnhTrương Tuấn AnhTrần Văn Thuấn
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6158KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỀ QUẢN LÝ ĐAU CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6159
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kiến thức, thái độ của điều dưỡng về quản lý đau cho người bệnh và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 02 đến tháng 9 năm 2025 trên 310 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Ung bướu Nghệ An. Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền gồm thông tin chung và bộ công cụ <strong>Nurses’ Knowledge and Attitudes Survey Regarding Pain (NKASRP)</strong>. Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 với các phương pháp thống kê mô tả và phân tích mối liên quan để xử lý số liệu; sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi <em>p </em>< 0,05.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Điểm kiến thức trung bình của điều dưỡng về quản lý đau là <strong>8,8 ± 3,31</strong>, trong khi điểm thái độ trung bình là <strong>63,04 ± 6,45</strong>. Chỉ <strong>5,5% </strong>điều dưỡng đạt mức kiến thức tốt, <strong>47,7% </strong>đạt mức trung bình và <strong>46,8% </strong>ở mức thấp. Đối với thái độ, <strong>0,6% </strong>điều dưỡng đạt mức tích cực, <strong>92,0% </strong>ở mức trung bình và <strong>7,4% </strong>ở mức thấp. Trình độ chuyên môn và thâm niên công tác ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ quản lý đau (<em>p </em>< 0,05), trong khi giới tính, trải nghiệm đau cá nhân và việc tham gia tập huấn chưa cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Kiến thức và thái độ của điều dưỡng về quản lý đau tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An còn thấp. Trình độ chuyên môn và thâm niên công tác là những yếu tố có ảnh hưởng đến năng lực quản lý đau. Cần nâng cao công tác đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức dựa trên bằng chứng và chuẩn hóa quy trình đánh giá, quản lý đau nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.</p>Phạm Thị Kim ThuPhạm Thị Kim ThuPhạm Thị DuyênCao Thị HiềnNguyễn Thị VânĐặng Quang ChúcĐặng Thị ThươngĐặng Thị ThươngNguyễn Thị HồngHoàng Thị DiệpChu Thị Kim Anh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6159THỰC TRẠNG GÁNH NẶNG CHĂM SÓC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ VÚ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6160
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng gánh nặng chăm sóc và phân tích một số yếu tố liên quan ở người chăm sóc chính của bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư vú tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, thu thập số liệu tiến cứu trên 102 người chăm sóc chính không nhận thù lao tại Khoa Ngoại Vú, Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An. Gánh nặng chăm sóc được đánh giá bằng thang ZBI gồm 22 câu. Gánh nặng cao được xác định khi ZBI trên 60 điểm. Số liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định Chi bình phương. Chỉ số hoạt động hằng ngày của người bệnh được đánh giá bằng thang Katz ADL. Người bệnh được phân thành hai nhóm: độc lập (Katz ADL = 6 điểm) và phụ thuộc (Katz ADL < 6 điểm).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm ZBI trung bình là 57,13 ± 15,62 (dao động 29-73 điểm). Có 53,9% người chăm sóc có gánh nặng cao và 27,5% có gánh nặng trung bình. Tỷ lệ gánh nặng cao ở nhóm người chăm sóc ≥ 60 tuổi cao hơn nhóm dưới 60 tuổi (80,9% so với 30,9%; p < 0,001). Gánh nặng chăm sóc có liên quan với chỉ số hoạt động của người bệnh (p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Gánh nặng chăm sóc sau phẫu thuật ung thư vú ở mức đáng kể. Cần ưu tiên sàng lọc, tư vấn và hỗ trợ người chăm sóc cao tuổi và người chăm sóc bệnh nhân phụ thuộc trong sinh hoạt.</p>Trần Thị ChâuNguyễn Thị Hương GiangNguyễn Thị Trang NhungĐặng Quang ChúcNguyễn Thị Thu HoàiĐoàn Thị Hồng Nhật
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6160ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI DI CĂN NÃO ĐIỀU TRỊ XẠ TRỊ TOÀN NÃO TẠI KHOA XẠ TỔNG HỢP BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6161
<p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) và xác định một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư phổi di căn não được điều trị xạ trị toàn não tại Khoa Xạ tổng hợp, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong><em>Đối tượng và phương pháp: </em></strong> </p> <p><strong><em>Kết quả: </em></strong>Nam giới chiếm 87,5%, nữ 12,5%; nhóm 50–69 tuổi chiếm 74,9%. Sau 1 tháng điều trị, các khía cạnh CLCS ghi nhận sự cải thiện mang tính chất thăm dò: điểm CLCS chung tăng từ 22,8 lên 43,6 (p < 0,001). Các triệu chứng thần kinh khu trú giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05): đau đầu giảm từ 59,3% xuống 37,5%; buồn nôn từ 6,25% xuống 3,1%; co giật từ 9,3% xuống 3,1%; liệt từ 21,8% xuống 18,7%; tỷ lệ đau mức độ nhiều giảm từ 9,6% xuống 3,9%.</p> <p><strong><em>Kết luận: </em></strong>Xạ trị toàn não bước đầu giúp cải thiện ngắn hạn chất lượng cuộc sống và giảm các triệu chứng thần kinh khu trú ở bệnh nhân ung thư phổi di căn não sống sót và hoàn thành phác đồ sau 1 tháng.</p> <p> </p> <p>Thiết kế nghiên cứu trong tóm tắt tiếng Việt là tiến cứu so sánh trước-sau, nhưng tóm tắt tiếng Anh ghi mô tả cắt ngang có so sánh trước-sau. Hai cách gọi này không tương đương; đề nghị thống nhất thuật ngữ thiết kế.</p>Lê Đức TrúcNguyễn Thị Kim OanhTrần Thị PhươngTrịnh Minh ThuNguyễn Thị Nga
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6161TUÂN THỦ BÀI TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG NUỐT Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐẦU CỔ XẠ TRỊ: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6162
<p><strong>Mục tiêu:</strong> (1) Mô tả thực trạng tuân thủ bài tập phục hồi chức năng nuốt ở người bệnh ung thư đầu cổ điều trị xạ trị tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An và (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến mức độ tuân thủ của đối tượng nghiên cứu. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 103 người bệnh ung thư đầu cổ có chỉ định xạ trị triệt căn hoặc bổ trợ từ tháng 01/2025 đến tháng 09/2025. Sự tuân thủ 7 bài tập PHCN nuốt được đánh giá qua phỏng vấn trực tiếp vào ngày kết thúc liệu trình xạ trị. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0, sử dụng hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan (p<0,05). <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ tuân thủ bài tập PHCN nuốt chung đạt 61,2%. Tỷ lệ tuân thủ cao nhất ở bài tập thay đổi tư thế nuốt (64,1%) và thấp nhất ở bài tập Masako (32,0%) và Mendelsohn (48,5%). Các yếu tố giúp tăng tỷ lệ tuân thủ có ý nghĩa thống kê (p<0,05) bao gồm: trình độ học vấn từ THPT trở lên (OR=3,63), không hút thuốc lá (OR=3,00), không uống rượu bia (OR=2,83), không có rối loạn tâm lý (OR=2,54) và giai đoạn bệnh I-II (OR=6,78). Ngược lại, độc tính xạ trị (đau, viêm niêm mạc miệng, buồn nôn) và các rào cản thực hành (cảm giác bất tiện, khó nhớ bài tập, tần suất/độ khó bài tập cao, thiếu người hỗ trợ) làm giảm đáng kể khả năng tuân thủ (p<0,05). Đáng chú ý, người bệnh đã xuất hiện triệu chứng khó nuốt có khả năng tuân thủ cao gấp 2,61 lần nhóm chưa bị khó nuốt (p<0,05). <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ tuân thủ bài tập PHCN nuốt ở người bệnh ung thư đầu cổ xạ trị ở mức trung bình. Quản lý tốt các tác dụng phụ của xạ trị, đơn giản hóa quy trình bài tập và tăng cường hỗ trợ từ gia đình, nhân viên y tế là giải pháp then chốt giúp nâng cao hiệu quả tuân thủ điều trị.</p>Lại Thị Mai LyNguyễn Văn ViệtLê Thị GiangTrần Thị ChâuPhạm Vĩnh HảiĐặng Quang ChúcPhạm Thị Kim ThuPhạm Thị Duyên
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6162THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BUỒNG TIÊM TRUYỀN DƯỚI DA Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐẦU CỔ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6163
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá thực trạng sử dụng buồng tiêm truyền dưới da ở người bệnh ung thư đầu cổ điều trị hoá chất.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 35 người bệnh ung thư đầu cổ có chỉ định điều trị hóa chất và được đặt buồng tiêm truyền tại Khoa Nội I - Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, từ tháng 03/2025 đến tháng 08/2025. Các tiêu chí đánh giá bao gồm biến chứng, khả năng duy trì hoạt động, mức độ đau, tuân thủ quy trình chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 61,03 ± 7,9 tuổi, 100% là nam giới. Ung thư hạ họng - thanh quản chiếm tỷ lệ cao nhất (57,1%); phần lớn được chẩn đoán ở giai đoạn III - IV (94,3%). Tỷ lệ chỉ định đặt buồng ngay từ khi bắt đầu hóa trị là 77,1% và 94,3% catheter được đặt qua tĩnh mạch cảnh trong phải. Mức độ đau khi cắm kim qua thang điểm VAS chủ yếu ở mức nhẹ (71,4% đạt 2 điểm). Tỷ lệ tuân thủ đúng quy trình chăm sóc điều dưỡng đạt 91,4%. Tỷ lệ biến chứng thấp (2,9% nhiễm trùng tại chỗ và 2,9% tắc nghẽn), có mối liên quan ý nghĩa giữa việc tuân thủ chăm sóc và giảm biến chứng (p = 0,005). Tỷ lệ người bệnh hài lòng và rất hài lòng đạt 74,3%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Buồng tiêm truyền dưới da được sử dụng ở người bệnh ung thư đầu cổ truyền hoá chất có tỷ lệ biến chứng thấp, khả năng duy trì hoạt động tốt, mức độ đau nhẹ và mức độ hài lòng cao. Tuân thủ đúng quy trình chăm sóc điều dưỡng liên quan tỷ lệ biến chứng buồng tiêm truyền thấp hơn có ý nghĩa thống kê.</p>Nguyễn Thị Tố UyênNguyễn Thị Thanh HảiBùi Thị Huyền
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6163TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT CẮT DẠ DÀY DO UNG THƯ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN NĂM 2025
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6164
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định tình trạng SDD và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân sau phẫu thuật dạ dày do ung thư tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành trên 120 bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư dạ dày tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 01/2025 – 9/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ SDD sau phẫu thuật theo PG- SGA là 53,3% trong đó SDD nặng chiếm 21,6%, tỷ lệ SDD theo BMI và Albumin lần lượt là 52,5% và 38,3%. Có sự liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân sau phẫu thuật dạ dày với các yếu tố chỉ định mổ, sốt sau phẫu thuật, tình trạng sụt cân trong vòng 1 tháng và tình trạng mất lớp mỡ dưới da, teo cơ, phù (p <0,05)</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đánh giá dinh dưỡng toàn diện và các yếu tố liên quan cho bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư dạ dày nên được thực hiện để can thiệp dinh dưỡng kịp thời, thích hợp và tăng đáp ứng và hiệu quả điều trị.</p>Lê Thị Diệu LinhNguyễn Tài Bùi ĐạtNguyễn Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6164MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ ĐƠN THUẦN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6165
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 130 bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 2-8 năm 2025. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30 phiên bản 3.0. Tình trạng lo âu và trầm cảm được đánh giá bằng thang điểm HADS. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống được phân tích bằng các kiểm định thống kê phù hợp.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm sức khỏe tổng quát trung bình theo EORTC QLQ-C30 là 39,61 ± 22,92. Trong các lĩnh vực chức năng, chức năng nhận thức có điểm số cao nhất (56,41 ± 27,94 điểm), trong khi chức năng hoạt động có điểm thấp nhất (39,10 ± 31,24 điểm). Các triệu chứng ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng cuộc sống gồm mệt mỏi (62,30 ± 28,26 điểm), đau (58,20 ± 33,02 điểm), mất ngủ (57,43 ± 33,72 điểm) và khó khăn tài chính (71,28 ± 30,43 điểm). Điểm sức khỏe tổng quát có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo nhóm tuổi (p = 0,044). Mức độ mệt mỏi và đau khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các giai đoạn bệnh (p lần lượt là 0,031 và 0,013). Lo âu và trầm cảm có tương quan nghịch với các lĩnh vực chức năng và sức khỏe tổng quát, đồng thời tương quan thuận với mức độ triệu chứng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần có chất lượng cuộc sống thấp, chịu ảnh hưởng đáng kể bởi các triệu chứng thể chất, suy giảm chức năng, khó khăn tài chính và các vấn đề tâm lý</p>Nguyễn Văn CôngNguyễn Văn VinhLô Thị Thanh NhànĐinh Ngọc LâmNguyễn Thị Hương
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6165PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG ONCOCARE ASSIST HỖ TRỢ QUẢN LÝ NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6166
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Nghiên cứu nhằm phát triển ứng dụng OncoCare Assist trên nền tảng AppSheet và bước đầu đánh giá tính khả thi, khả năng chấp nhận và hiệu quả sử dụng trong thực hành ung bướu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu gồm 2 giai đoạn: phát triển ứng dụng theo phương pháp nghiên cứu hành động dựa trên nhu cầu người dùng và đánh giá mô tả cắt ngang trên 12 bác sĩ trực tiếp thử nghiệm ứng dụng.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>OncoCare Assist được xây dựng với 32 bảng, 2962 cột, 96 giao diện và 108 thao tác, tập trung vào 3 nhóm chức năng: lưu trữ dữ liệu người bệnh, quản lý quy trình lâm sàng và hỗ trợ nghiên cứu theo thời gian thực. Điểm System Usability Scale trung bình đạt 83,1 ± 6,5, thuộc mức “Excellent”. Thời gian hoàn thành 5 nhiệm vụ lâm sàng thường gặp giảm trung bình 90,5% so với phương pháp thủ công.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>OncoCare Assist là giải pháp khả thi, dễ sử dụng, giúp chuẩn hóa dữ liệu, giảm tải thao tác hành chính và hỗ trợ nghiên cứu lâm sàng ung bướu.</p>Nguyễn Xuân ĐạiLâm Ngọc KhoaVũ Nguyễn Hồng PhongTrần Minh TríNguyễn Tiến LộcNguyễn Thị Thu HườngPhạm Tuấn Anh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6166DỮ LIỆU ĐỜI THỰC VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ SỐNG CÒN TOÀN BỘ CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ BẰNG PEMBROLIZUMAB THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ THUỐC TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6167
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả mức độ duy trì điều trị theo định nghĩa vận hành, thời gian sống còn toàn bộ (OS) và một số yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân ung thư tham gia chương trình hỗ trợ thuốc (VPAP) tại Bệnh viện Quân y 175.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, đơn trung tâm, trên 191 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên tham gia VPAP và điều trị Pembrolizumab. Duy trì điều trị được định nghĩa vận hành là thực nhận ≥ 80% số chu kỳ Pembrolizumab dự kiến theo kế hoạch điều trị. OS được tính từ ngày bắt đầu điều trị trong VPAP đến tử vong do mọi nguyên nhân; bệnh nhân còn sống được kiểm duyệt tại lần theo dõi cuối. Sống còn được ước lượng bằng Kaplan-Meier; các yếu tố liên quan đến tử vong được phân tích bằng hồi quy Cox.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung vị là 62 tuổi; nam giới chiếm 71,7%. Có 79,6% bệnh nhân đạt tiêu chí duy trì điều trị theo định nghĩa vận hành; OS trung vị là 8 tháng. Trong mô hình Cox đa biến, ECOG ≥ 2 (HR hiệu chỉnh 11,82; 95% CI: 5,84-23,90; p < 0,001) và tuổi ≥ 65 (HR hiệu chỉnh 1,71; 95% CI: 1,10-2,67; p = 0,018) liên quan với nguy cơ tử vong cao hơn. Nhóm phối hợp hóa trị có HR tử vong thấp hơn sau điều chỉnh; đây là mối liên quan quan sát và có thể còn nhiễu theo chỉ định.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Trong quần thể nghiên cứu, 79,6% bệnh nhân đạt tiêu chí duy trì điều trị theo định nghĩa vận hành. ECOG kém và tuổi cao liên quan độc lập với sống còn ngắn hơn. Kết quả theo nhóm phác đồ không cho phép suy luận về hiệu quả điều trị nhân quả.</p>Nguyễn Tiến DũngHà Mạnh ĐứcTrần Đức LinhNguyễn Thị LanTrần Viết HiếuTrần Viết HiếuBùi Thị HằngHoàng Thị LâmThái Hữu TìnhBùi Hoàng HảiLê Thị LinhNguyễn Khắc Tuyến
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6167THỰC TRẠNG BÁO CÁO SỰ CỐ Y KHOA VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6168
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá thực trạng ghi nhận sự cố y khoa và khảo sát các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang qua dữ liệu định lượng thứ cấp thu thập từ 374 phiếu báo cáo sự cố y khoa trong giai đoạn từ tháng 1/2022 đến tháng 2/2026.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Hệ thống ghi nhận tỷ lệ báo cáo tự nguyện rất cao, đạt 98,7%; nhóm nhân lực trực tiếp chăm sóc gồm điều dưỡng và kỹ thuật viên là lực lượng báo cáo chính (60,4%). Phần lớn các tình huống phát sinh vào khung giờ hành chính (94,1%) và được cập nhật kịp thời trong vòng 24 giờ đầu (94,4%). Hai kênh báo cáo trực tuyến là ứng dụng AppSheet và quét mã QR chia đều thị phần với tỷ lệ lần lượt là 50% và 49,7%. Về tính chất rủi ro, nhóm sự cố suýt xảy ra hoặc chưa gây can thiệp tổn thương chiếm đa số với 75,1%, không xuất hiện biến cố nghiêm trọng nào. Sai sót trong việc vận hành các quy trình kỹ thuật và thủ thuật chuyên môn là tác nhân phổ biến nhất (56,4%). Phân tích cho thấy phương thức tiếp cận, chức danh công việc cùng khối chuyên môn có mối liên hệ mật thiết đến tiến độ và độ hoàn thiện của thông tin báo cáo.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hệ thống báo cáo sự cố y khoa số hóa bước đầu phát huy hiệu quả, cần tiếp tục cải tiến phần mềm, đào tạo và duy trì văn hóa báo cáo không trừng phạt.</p>Hoàng Thị Linh GiangNguyễn Thị Ngọc ThúyTrần Bá KiênNguyễn Tài Bùi ĐạtLê Thị Thu Huyền
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6168KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA PHÁC ĐỒ ATEZOLIZUMAB KẾT HỢP BEVACIZUMAB TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TIẾN XA TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6169
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá đáp ứng điều trị, kết cục sống còn và tính an toàn của phác đồ Atezolizumab kết hợp Bevacizumab ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tiến xa tại Bệnh viện Quân y 175.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca, theo dõi dọc trên 20 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tiến xa, được điều trị bằng phác đồ Atezolizumab kết hợp Bevacizumab tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2025. Đáp ứng điều trị được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST 1.1; thời gian sống thêm không tiến triển và thời gian sống thêm toàn bộ được ước tính bằng phương pháp Kaplan-Meier.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Đáp ứng tốt nhất theo RECIST 1.1 gồm 8 trường hợp (40%) đáp ứng một phần, 7 trường hợp (35%) bệnh ổn định và 5 trường hợp (25%) bệnh tiến triển. Tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 40% và tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 75%. Trung vị thời gian theo dõi là 16,7 tháng (KTC 95%: 5,7-NR). Có 16 biến cố thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (80%) và 14 biến cố thời gian sống thêm toàn bộ (70%). Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển là 5,3 tháng (KTC 95%: 0,7-11,0), trong khi trung vị thời gian sống thêm toàn bộ là 12,1 tháng (KTC 95%: 1,7-18,4). Độc tính độ 3-4 ghi nhận ở 10% bệnh nhân. Các biến cố bất lợi thường gặp gồm mệt mỏi (40%), tăng huyết áp (20%), tăng men gan (15%) và xuất huyết (5%).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Phác đồ Atezolizumab kết hợp Bevacizumab cho thấy hiệu quả kiểm soát bệnh khả quan ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tiến xa với tỷ lệ đáp ứng khách quan 40%, lệ kiểm soát bệnh 75%, trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển 5,3 tháng và trung vị thời gian sống thêm toàn bộ 12,1 tháng. Hồ sơ an toàn ở mức chấp nhận được, với tỷ lệ độc tính độ 3-4 là 10%.</p>Nguyễn Tiến DũngHà Đức MạnhTrần Đức Linh
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6169LIÊN QUAN CỦA TỶ LỆ BẠCH CẦU ĐOẠN TRUNG TÍNH, BẠCH CẦU LYMPHO VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN NHIỄM VIRUS VIÊM GAN B MẠN TÍNH
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6170
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu mối liên quan giữa tỷ lệ bạch cầu trung tính/bạch cầu lympho (NLR) với đặc điểm lâm sàng của người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan liên quan đến nhiễm virus viêm gan B mạn tính (HBV-HCC).</p> <p><strong>P</strong><strong>hương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 người bệnh mắc HBV-HCC.</p> <p><strong>Kết quả:</strong><strong> </strong>Tỷ lệ NLR cao hơn ở Child-Pugh B so với Child-Pugh A (p = 0,004). HBV-HCC có kích thước khối u lớn nhất cao hơn có tỷ lệ NLR cao hơn (p = 0,0013). Bệnh nhân HBV-HCC có huyết khối tĩnh mạch cửa có tỷ lệ NLR cao hơn so với nhóm không có huyết khối (p = 0,023). Hơn nữa, tỷ lệ NLR cao hơn ở nhóm có sút cân (p = 0,0029), vàng da-niêm mạc (p = 0,0445) và tuần hoàn bàng hệ (p = 0,0216). Ngược lại, tỷ lệ NLR không khác biệt giữa các phân nhóm theo số lượng khối u, sự di căn và giai đoạn ung thư.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ NLR cao hơn ở người bệnh HBV-HCC có Child-Pugh B, C, kích thước khối u lớn hơn, có huyết khối tĩnh mạch cửa, có sút cân, vàng da-niêm mạc và tuần hoàn bàng hệ. Tỷ lệ NLR không liên quan với giai đoạn ung thư, di căn và số lượng khối u.</p>Nguyễn Thị Mai LyPhạm Thị Phương Thảo Ngô Hoàng AnhBùi Khắc Cường
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6170NHU CẦU CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐẦU CỔ ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN NĂM 2026
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6171
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư đầu cổ điều trị nội trú tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2026.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 160 người bệnh ung thư đầu cổ điều trị nội trú tại Khoa Nội 1, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1-4 năm 2026.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh chiếm 68,1%; có 31,9% người bệnh không có nhu cầu này. Nhu cầu ở người bệnh cần hỗ trợ các vấn đề về thể chất chiếm tỷ lệ cao nhất (76,3%); xếp thứ hai là nhu cầu về các vấn đề về xã hội (75,6%); thấp nhất là nhóm nhu cầu hỗ trợ các hoạt động thường ngày (62,5%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Người bệnh ung thư đầu cổ có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ ở mức cao và đa dạng. Người bệnh có nhiều nhu cầu hỗ trợ ở các lĩnh vực thể chất, xã hội, tinh thần và tài chính. Việc sàng lọc nhu cầu trước khi ra viện, tăng cường giáo dục sức khỏe, tư vấn chăm sóc và phối hợp theo dõi tại cộng đồng là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và chất lượng cuộc sống cho người bệnh.</p>Hồ Thị Hải LêHồ Thị Hải LêVũ Thị Tuyết LanĐinh Thị Hằng Nga
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6171NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TERATOMA BUỒNG TRỨNG TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN NĂM 2025
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6172
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị teratoma buồng trứng tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An năm 2025. </p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 126 bệnh nhân được chẩn đoán xác định teratoma buồng trứng bằng mô bệnh học và được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ biến chứng xoắn buồng trứng là 4,8%. Kích thước u trung bình là 60,73 ± 29,56 mm (nhóm 50-100 mm chiếm 54%). Phân loại O-RADS trên siêu âm: O-RADS 2 (80,2%), O-RADS 3 (11,9%) và O-RADS 4 (7,9%). Về mô bệnh học, teratoma tế bào trưởng thành chiếm 96%, teratoma tế bào non chiếm 4%. Phẫu thuật nội soi (95,2%), mổ mở (3,2%) và nội soi chuyển mổ mở (2,6%). Phương pháp can thiệp bóc u bảo tồn chiếm 90,5%, cắt phần phụ chiếm 7,1%, cắt triệt để chiếm 2,4%. Tỷ lệ biến chứng sau mổ thấp (4%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Teratoma buồng trứng gặp chủ yếu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, diễn biến âm thầm. Phẫu thuật nội soi bóc u bảo tồn nhu mô buồng trứng là phương pháp an toàn, mang lại hiệu quả cao và ít biến chứng.</p>Nguyễn Tài Bùi ĐạtLê Thị Diệu LinhLê Thị Như Ngọc
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6172KẾT QUẢ HÓA XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI TRIỆT CĂN UNG THƯ HẠ HỌNG GIAI ĐOẠN II-IVA TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
https://tapchiyhcd.vn/index.php/yhcd/article/view/6173
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả hóa xạ trị đồng thời triệt căn ở người bệnh ung thư hạ họng giai đoạn II-IVA.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả hồi cứu có theo dõi dọc trên 73 người bệnh ung thư hạ họng giai đoạn II-IVA được hóa xạ trị đồng thời triệt căn tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 8/2020 đến tháng 8/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình 61,3 ± 6,9; lý do vào viện thường gặp nhất là nuốt vướng (76,7%). U chủ yếu ở xoang lê (63%), mô bệnh học chủ yếu là ung thư biểu mô tế bào vảy (97,3%). Giai đoạn IVA chiếm 67,1%. Tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 94,5%. Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 35,9 ± 3,4 tháng; tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 12, 24 và 36 tháng lần lượt 65%, 47% và 40%. Gián đoạn điều trị làm giảm thời gian sống thêm toàn bộ có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hóa xạ trị đồng thời là phương pháp điều trị hiệu quả cho ung thư hạ họng giai đoạn II-IVA, mang lại tỷ lệ đáp ứng cao và thời gian sống thêm khả quan.</p>Nguyễn Thế TrọngNguyễn Thị Vân AnhNguyễn Thị Quỳnh HoaNguyễn Thị Quỳnh HoaNguyễn Thị NgaHồ Khánh Hòa
Copyright (c) 2026
2026-08-142026-08-1410.52163/yhc.v67iCD12.6173