Mục tiêu: (1) Xác định mức độ chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh tại thành phố Cần Thơ; (2) Đánh giá mối tương quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) chăm sóc sức khỏe mãn kinh và chất lượng cuộc sống. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 1.600 phụ nữ mãn kinh tại 8 xã/phường của thành phố Cần Thơ (12/2024–8/2025). Mức độ chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng điểm MENQOL tiếng Việt 28 mục (1–8 điểm, điểm càng cao chất lượng cuộc sống càng kém); mối tương quan được phân tích bằng hệ số Spearman (ρ). Kết quả: Trung vị điểm MENQOL chung là 1,63 (Q1–Q3: 1,39–2,09); trung vị các lĩnh vực vận mạch, tâm lý – xã hội, thể chất và tình dục lần lượt là 1,33; 1,57; 1,67 và 1,67. Thực hành có tương quan nghịch mức độ yếu (ρ = −0,210; p < 0,001), kiến thức (ρ = −0,135; p < 0,001) và thái độ (ρ = −0,072; p = 0,004) có tương quan nghịch mức độ rất yếu với điểm MENQOL. Kết luận: Kiến thức, thái độ, thực hành tốt hơn đi kèm chất lượng cuộc sống tốt hơn nhưng mối liên hệ yếu; do thiết kế cắt ngang, kết quả chỉ gợi ý các chương trình cộng đồng nên chú trọng hỗ trợ thực hành bên cạnh cung cấp kiến thức.
QUALITY OF LIFE AND ITS CORRELATIONS WITH KNOWLEDGE, ATTITUDES, AND PRACTICES REGARDING MENOPAUSAL HEALTH CARE AMONG MENOPAUSAL WOMEN IN CAN THO CITY
25
Views
0
Downloads
Abstract
Keywords
Menopause; Quality of Life; Knowledge, Attitudes, and Practices; MENQOL.
References
[1]
1. Bộ Y tế. Quyết định số 3977/QĐ-BYT ngày 30/12/2024 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản – Nội dung chăm sóc sức khỏe phụ nữ tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh”. Hà Nội: Bộ Y tế; 2024.
Google Scholar
[2]
2. Lê Thị Hồng Cẩm. Chất lượng cuộc sống của phụ nữ từ 45–55 tuổi tại thành phố Trà Vinh năm 2019. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2019;23(5):283–8.
Google Scholar
[3]
3. Nguyễn Thị Hòa, Trần Thùy Dương, Thái Lan Anh. Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ tuổi mãn kinh tại huyện Kiến Thụy - Hải Phòng năm 2018. Tạp chí khoa học Điều dưỡng. 2018;2(1):62–66.
Google Scholar
[4]
4. Nguyễn Minh Phương, Lê Thị Kim Định. Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh và yếu tố liên quan tại thành phố Cần Thơ năm 2020. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021;499(1-2):132–7. doi:10.51298/vmj.v499i1-2.246.
Google Scholar
[5]
5. Phạm Thị Hoa Xinh, Đinh Huy Cường, Tạ Đình Cao, Bùi Văn Nhiều, Trần Đình Trung, Ngô Thị Kim Yến. Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: một nghiên cứu cắt ngang. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2025;66(CĐ8-NCKH):229–34. doi:10.52163/yhc.v66iCD8.2586.
Google Scholar
[6]
6. Huynh TNK, Nguyen NT, Huynh PN, Nguyen TTP, Tran HP, Hoang TTD. Knowledge, attitudes, and practices on menopause among female health workers in Vietnam – findings from a cross-sectional study. Prz Menopauzalny. 2025;24(4):268–81. doi:10.5114/pm.2025.158469.
Google Scholar
[7]
7. Nguyen TTP, Phan HT, Vu TMT, Tran PQ, Do HT, Vu LG, et al. Physical activity and social support are associated with quality of life in middle-aged women. PLoS One. 2022;17(5):e0268135. doi:10.1371/journal.pone.0268135.
Google Scholar
[8]
8. Hilditch JR, Lewis J, Peter A, van Maris B, Ross A, Franssen E, et al. A menopause-specific quality of life questionnaire: development and psychometric properties. Maturitas. 1996;24(3):161–75. doi:10.1016/S0378-5122(96)82006-8.
Google Scholar