Articles Vol. 66 No. CĐ22-Hội Hóa sinh Y học VN 12/01/2026

36. NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ NỒNG ĐỘ ACID URIC HUYẾT THANH Ở THAI PHỤ TIỀN SẢN GIẬT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG

Tran Hoang Anh1, Trinh Thi Phuong Dung2, Bui Thi Hương Giang1, Quach Thi Yen3, Luu Vu Dung1,4, Nguyen Anh Ngoc1, Pham thi Thu Trang1,5
1 Đại học Y Dược Hải Phòng
2 Đại học Y Hà Nội
3 Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam
4 Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
5 Bệnh viện Da liễu Trung Ương
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD22.3793
23 Views
10 Downloads
Abstract

Mục tiêu: Khảo sát giá trị nồng độ acid Uric huyết thanh ở thai phụ tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2024.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu dữ liệu bệnh án của 112 thai phụ tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2024. Gồm 56 trường hợp tiền sản giật (39 TSG, 17 TSG nặng); 56 trường hợp thai kỳ bình thường. Tất cả đều được chỉ định làm xét nghiệm acid Uric.

Kết quả và bàn luận: Tuổi trung bình của nhóm TSG: 375,24±73,11 µmol/l, nhóm TSG nặng: 477,24±116,33 µmol/l, nhóm chứng: 304,1±85,46 µmol/l, p<0,0001. Thai phụ có nồng độ acid Uric >360 µmol/l có nguy cơ TSG tăng 5,87 lần (OR=5,87; 95%CI: 2,52–13,7); nguy cơ biến chứng mẹ tăng 3,67 lần (OR=3,67; 95%CI: 1,19–30,15); nguy cơ sinh non tăng 3,75 lần (OR=3,75; 95%CI: 1,22–11,52); có protein niệu dương tính gấp 5,05 lần (p<0,05; OR=5,05; 95%CI: 1,41 – 18,08). Khả năng dự đoán của acid Uric: TSG: AUC = 80,3% (điểm cắt: 329,8 µmol/l; độ nhạy (ĐN): 80,4%; độ đặc hiệu (ĐĐH): 71,4%); biến chứng mẹ: AUC = 76,2% (điểm cắt: 396,2 µmol/l, ĐN: 85,7%, ĐĐH: 64,37%); sinh non: AUC = 65,6% (điểm cắt: 397,8 µmol/l, ĐN: 66,7%, ĐĐH: 76,9%).

Kết luận: Nồng độ acid Uric huyết thanh tăng cao có mối liên quan đáng kể với nguy cơ mắc tiền sản giật, biến chứng sản khoa và sinh non. Acid Uric có thể là chỉ số sinh hóa hữu ích trong dự đoán và quản lý tiền sản giật.

References
[1]
Trần, Mạnh Linh. Mô hình sàng lọc bệnh lý tiền sản giật tại thời điểm 11 tuần đến 13 t tuần 6 ngày thai kỳ dựa vào yếu tố nguy cơ mẹ, huyết áp động mạch, Papp-A và siêu âm Doppler động mạch tử cung. Tạp chí Phụ sản, Tập 13, Số 3 (2015): 38-46. Google Scholar
[2]
Dương Mỹ Linh. Nghiên cứu nồng độ acid uric, LDH máu ở thai phụ tiền sản giật tại bệnh viện sản nhi kiên giang. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2023;(61):414–9. Google Scholar
[3]
Lê Minh Tâm và c.s. Maternal serum uric acid concentration and pregnancy outcomes in women with pre-eclampsia/eclampsia. International Journal of Gynecology & Obstetrics. 2019;144(1):21–6. Google Scholar
[4]
de Mendonça ELSS, da Silva JVF, Mello CS, de Oliveira ACM. Serum uric acid levels associated with biochemical parameters linked to preeclampsia severity and to adverse perinatal outcomes. Arch Gynecol Obstet. 2022;305(6):1453–63. Google Scholar
[5]
Ugwuanyi RU, Chiege IM, Agwu FE, Eleje GU, Ifediorah NM. Association between Serum Uric Acid Levels and Perinatal Outcome in Women with Preeclampsia. Obstet Gynecol Int. 2021; 2021:6611828. Google Scholar
[6]
Hawkins TLA, Roberts JM, Mangos GJ, Davis GK, Roberts LM, Brown MA. Plasma uric acid remains a marker of poor outcome in hypertensive pregnancy: a retrospective cohort study. BJOG. 2012;119(4):484–92. Google Scholar
[7]
Piani F, Agnoletti D, Baracchi A, Scarduelli S, Verde C, Tossetta G, và c.s. Serum uric acid to creatinine ratio and risk of preeclampsia and adverse pregnancy outcomes. Journal of Hypertension. 2023;41(8):1333. Google Scholar
[8]
Tesfa E, Munshea A, Nibret E, Mekonnen D, Sinishaw MA, Gizaw ST. Maternal serum uric acid, creatinine and blood urea levels in the prediction of pre-eclampsia among pregnant women attending ANC and delivery services at Bahir Dar city public hospitals, northwest Ethiopia: A case-control study. Heliyon. 2022;8(10): e11098. Google Scholar
[9]
Bellos I, Pergialiotis V, Loutradis D, Daskalakis G. The prognostic role of serum uric acid levels in preeclampsia: A meta‐analysis. J Clin Hypertens (Greenwich). 2020;22(5):826–34. Google Scholar