Articles Vol. 66 No. CĐ22-Hội Hóa sinh Y học VN 12/01/2026

32. GIÁ TRỊ XÉT NGHIỆM LH, FSH, ESTRADIOL Ở TRẺ GÁI DẬY THÌ SỚM

Pham thu Thu1, Le Huyen My2, Nguyen Thi Ngoc Yen3, Lương Tien Thuan3, Do Ngoc Hai4, Tran Thi Hanh4, Trinh Thi Thuy Linh4, Luu Vi Dung5,6, Pham thi Thu Trang2,5
1 Bệnh viện Đa khoa Gold Star
2 Bệnh viện Da liễu Trung Ương
3 Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
4 Bệnh viện Việt Tiệp
5 Đại học Y Dược Hải Phòng
6 Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD22.3789
71 Views
16 Downloads
Abstract

Mục tiêu: Khảo sát giá trị xét nghiệm LH, FSH và Estradiol ở trẻ gái được chẩn đoán dậy thì sớm đến khám tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2024.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng dữ liệu hồi cứu, thực hiện trên 221 trẻ gái được chẩn đoán lần đầu là dậy thì sớm, chưa điều trị, đến khám tại Khoa Thận – Máu – Nội tiết từ tháng 1 đến 12/2024 và được chỉ định xét nghiệm LH, FSH, Estradiol. Chọn mẫu thuận tiện theo tiêu chí lựa chọn bệnh nhân.

Kết quả: Tuổi trung bình là 7,74 ± 2,09. Nồng độ trung bình của LH, FSH và Estradiol lần lượt là 0,92 ± 1,90 mUI/ml; 3,10 ± 3,94 mUI/ml; 71,41 ± 79,47 pmol/ml. LH và Estradiol có tương quan thuận với tuổi xương (r = 0,346 và 0,357; p < 0,05). LH có tương quan thuận với FSH (r = 0,3, p < 0,05) và Estradiol (r = 0,581; p < 0,05). Giá trị AUC của LH, FSH và Estradiol lần lượt là 0,885; 0,767 và 0,632 (p < 0,001).

Kết luận: Xét nghiệm LH, FSH và Estradiol có ý nghĩa trong hỗ trợ chẩn đoán dậy thì sớm ở trẻ gái, trong đó LH là chỉ số có giá trị chẩn đoán cao nhất. Việc kết hợp đánh giá nội tiết và lâm sàng giúp nâng cao hiệu quả phát hiện và quản lý dậy thì sớm.

References
[1]
Garibaldi and Wassim Chemaitilly. (2015). “Physiology of Puberty”, Nelson textbook of Pediatrics - 20th edition, Saunders Elsevier, 2655-2656 - Search Results. PubMed. Google Scholar
[2]
Phan Thị Yến và cộng sự. (2019). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị dậy thì sớm trung ương vô căn ở trẻ gái tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh. Tạp chí Khoa học và công nghệ Đại học Thái Nguyên. T. 207, S. 14 (2019). Google Scholar
[3]
Chi N.T.D. and Yên H.T.T. (2020). Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng dậy thì sớm vô căn ở trẻ gái. Vietnam Journal of Diabetes and Endocrinology, (38), 81–88. Google Scholar
[4]
Brauner R, et al. 20-28. Comparison of two bone markers with growth evolution in 74 girls with central precocious puberty. BMC Pediatrics. 2018;18(1):1194. Google Scholar
[5]
Yue-Qin Xu, Gui-Mei Li. (2018). Advanced bone age as an indicator facilitates the diagnosis of precocious puberty. Open Access. doi: 10.1016/j.jped.2017.03.010. Epub 2017 Aug 30. Google Scholar
[6]
Kyungchul Song , Eunju Lee , Hye Sun Lee , Hana Lee , Hyun Wook Chae , Hyun Joo Shin . (2025). Development of a simplified prediction model for diagnosing progressive central precocious puberty using clinical and pelvic ultrasound parameters. PLOS ONE, tháng 5 năm 2025; PMID: 40343978; DOI: 10.1371/journal.pone.0323549. Google Scholar
[7]
Đỗ Thị Hoàng Hà; (2022). Nghiên cứu nồng độ một số hormon sinh sản ở phụ nữ vô sinh tại thành phố hải phòng. <https://123docz.net/document/1325264-nghien-cuu-nong-do-mot-so-hormon-sinh-san-o-phu-nu-vo-sinh-tai-thanh-pho-hai-phong.htm>, accessed: 07/03/2022. Google Scholar
[8]
Lee H.S., Park H.K., Ko J.H., et al. (2012). Utility of Basal luteinizing hormone levels for detecting central precocious puberty in girls. Horm Metab Res, 44(11), 851–854. Google Scholar