Mục tiêu: nhận xét thay đổi nồng độ của CEA, CYFRA 21-1, SCC huyết tương sau điều trị người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) tại Bệnh viện Phổi Trung ương.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang ở 250 NB ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Nồng độ CEA, CYFRA 21-1, SCC được định lượng theo phương pháp miễn dịch hóa phát quang.
Kết quả: Sau 6 chu kì điều trị, trung vị nồng độ (TVNĐ) CEA, CYFRA 21-1, SCC thấp nhất sau 6 chu kì điều trị, giai đoạn III lần lượt là 3,93; 2,88; 0,8 ng/ml với p < 0,001. TVNĐ CEA, CYFRA 21-1, SCC thấp nhất ở typ ung thư biểu mô tuyến (UTBMT), ung thư biểu mô vảy (UTBMV), UTBMV lần lượt là 6,15; 2,77; 1,25 ng/ml với p < 0,01. Tỉ lệ người bệnh (NB) có nồng độ CEA, CYFRA 21-1, SCC thấp dưới ngưỡng nhiều nhất lần lượt là 50,43%; 65,3%; 62,5%.
Kết luận: Sau 6 chu kì điều trị người bệnh NSCLC giai đoạn III, nồng độ CEA, CYFRA 21-1, SCC huyết tương giảm thấp nhất so với trước điều trị; TVNĐ CEA, CYFRA 21-1, SCC thấp nhất ở typ UTBMT, UTBMV, UTBMV và tỉ lệ NB có nồng độ CEA, CYFRA 21-1, SCC thấp dưới ngưỡng là nhiều nhất. Điều này có ý nghĩa trong tiên lượng, giám sát tái phát và theo dõi điều trị cho người bệnh NSCLC.