Mục tiêu: Xác định liều tới cơ quan lành và vú đối bên khi lập kế hoạch sử dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) trong ung thư vú, so sánh với kỹ thuật trường trong trường (FiF) trong điều trị xạ bổ trợ ung thư vú.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến hành trên 30 chuỗi ảnh CT của bệnh nhân điều trị xạ trị bổ trợ ung thư vú. Mỗi chuỗi ảnh của bệnh nhân được lập kế hoạch bằng cả hai kỹ thuật IMRT và FiF. Các thông số liều, đường đồng liều tới thể tích điều trị, các cơ quan nguy cấp và vú đối bên được xác định và so sánh giữa hai kỹ thuật.
Kết quả: Đánh giá liều tới thể tích đích điều trị và cơ quan nguy cấp đều đảm bảo các tiêu chí đánh giá kế hoạch. Cả hai kỹ thuật đều đảm bảo độ bao phủ về liều tới PTV, liều phổi cùng bên của cả hai kỹ thuật đều nằm trong giới hạn cho phép, V2000 cGy < 35%, liều cực đại lên tim với kế hoạch IMRT giảm rõ rệt so với kỹ thuật FiF. Đánh giá liều Dmax của vú đối bên nhận được: kỹ thuật IMRT 955 ± 101 cGy, FiF 3737 ± 154 cGy nhóm G1; IMRT 647 ± 124 cGy, FiF 1035 ± 85 cGy nhóm G2. Liều tại trung tâm vú đối bên và liều tại vị trí cách trung tâm vú đối bên 4 cm cũng có sự giảm liều là đáng kể khi sử dụng kỹ thuật IMRT giảm khoảng 2 lần so với sử dụng kỹ thuật FiF (cả 2 nhóm).
Kết luận: Xạ trị ung thư vú sử dụng kỹ thuật IMRT giúp giảm vùng liều cao và liều lớn nhất tới cơ quan lành và vú đối bên khi so sánh với kỹ thuật FiF. Kỹ thuật FiF kiểm soát tốt các vùng liều thấp, Dmean tới vú đối bên so với kỹ thuật IMRT.