Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị tăng sinh tuyến tiền liệt ngoại trú tại tỉnh Thanh Hóa.
Đối tượng và phương pháp: 34 bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang các đặc điểm: tuổi, đặc điểm tăng sinh tuyến tiền liệt, bệnh kèm, điểm IPSS, điểm QoL, điểm SHIM, tác dụng của Pygtadenan.
Kết quả: Tuổi trung bình 60,00 ± 11,83 (37-83), các bệnh nhân có độ tuổi dưới 60 chiếm 47,06%. Kích thước tuyến tiền liệt 29,50 ± 8,43 gam; trong số các bệnh kèm theo phì đại tuyến tiền liệt thì đau thần kinh chiếm 47,06%. Số lần tiểu trung bình trước điều trị là 12,24 ± 3,81 lần/24 giờ; bệnh nhân tiểu đêm trung bình 2,78 ± 0,81 lần (p < 0,05); tổng điểm IPSS đầu vào 16,71± 6,10 điểm, 100% cần điều trị do các rối loạn niệu; điểm QoL: 4,59 ± 0,86 (4-6 điểm) (p < 0,05); điểm SHIM giữa các nhóm tuổi có ảnh hưởng từ trung bình trở lên chiếm 76,47%; Sau điều trị, điểm IPSS và QoL có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Đánh giá chất lượng cuộc sống sau điều trị đã cải thiện tốt, 100% bệnh nhân hài lòng với kết quả điều trị. QoL của các bệnh nhân sau điều trị đã cải thiện rõ rệt, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Kết luận: Bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt lành tính có gây rối loạn tiểu tiện, đặc biệt là tiểu đêm nhiều lần, gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống do gây mất ngủ. Phối hợp Pygtadenan trong phác đồ điều trị ngoại trú giúp cải thiện tốt triệu chứng tiểu đêm cho bệnh nhân, cải thiện chất lượng cuộc sống.