Articles Vol. 66 No. CĐ15-HNKH Trường Đại học Võ Trường Toản 12/01/2026

25. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN GOUT

Nguyen Thi Thu Trang1, Nguyen Kim Vuong2, Phan Th Vu1, Thong Thi Ngoc Vy1, Thach1, Dang Van Thanh1
1 1. Trường Đại Học Võ Trường Toản
2 2. Bệnh Viện Đại Học Võ Trường Toản
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD15.3276
20 Views
10 Downloads
Abstract

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan ở bệnh nhân gout và phân tích thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị gout.

Phương pháp: Tổng quan tường thuật từ 31 nghiên cứu trong và ngoài nước về dịch tễ học và điều trị gout. Các số liệu về tuổi, giới, BMI, bệnh lý đi kèm, thói quen sinh hoạt, mô hình sử dụng thuốc và kết quả điều trị được tổng hợp và phân tích.

Kết quả: Bệnh gout gặp chủ yếu ở nam giới trung niên và cao tuổi, với tỷ lệ thừa cân/béo phì và bệnh kèm theo (tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường) cao. Các thói quen nguy cơ như uống rượu bia, chế độ ăn giàu purin rất phổ biến, song đa số nghiên cứu chưa chứng minh được mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Allopurinol là thuốc hạ acid uric được sử dụng nhiều nhất, chủ yếu đơn trị liệu (trên 90% trong các nghiên cứu trong nước). Tỷ lệ đạt mục tiêu acid uric (< 360 µmol/L) khoảng 61,9% sau 3 tháng điều trị. Các thuốc khác (colchicin, NSAID, febuxostat, lesinurad, pegloticase) được dùng ít hơn do chi phí, tác dụng phụ hoặc khó tiếp cận. Nhiều nghiên cứu quốc tế ghi nhận tỷ lệ tuân thủ điều trị thấp, chỉ đạt 51–55% trong năm đầu.

Kết luận: Điều trị gout hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào allopurinol đơn trị liệu với hiệu quả còn hạn chế do tuân thủ thấp và ít cá thể hóa. Cần các chiến lược tối ưu phác đồ và tăng cường giáo dục bệnh nhân để cải thiện kết quả lâu dài.

References
[1]
Ngô Quý Châu (2018), Triệu chứng học Nội khoa, NXB Y học, Tr 410-440. Google Scholar
[2]
Asghari KM, Zahmatyar M, Seyedi F, et al (2024), “Gout: global epidemiology, risk factors comorbidities and compilications: a narrative review”, BMC Musculoskeltal, 25, pp 1047 - 1066 Google Scholar
[3]
Trần Thị Hiền Lĩnh và cộng sự ( 2022), “Thực trạng kiến thức và sử dụng thuốc Corticosteroid ở bệnh nhân Gout tại bệnh viện đại học Y Hà Nội”, Tạp chí Y học Việt Nam, 518 (1), Tr 78 -82. Google Scholar
[4]
Tạ Đăng Quang (2020), Nghiên cứu độc tính và tác dụng điều trị bệnh gút mạn tính của viên nang cứng tam diệu gia vị trên thực nghiệm và lâm sàng, Luận án Tiến sĩ, tạp chí đại học Y Dược Hà Nội. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thành Tiến và cộng sự (2021), “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân Gout tại bệnh viện đa khoa Xanh Pon năm 2020-2021”, Tạp chí nghiên cứu y học, 146(10), Tr 104-112. Google Scholar
[6]
Hồ Cảnh Hậu và cộng sự (2023), “Phân tích một số chỉ số trong kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện quân Y 105 năm 2021”, Tạp chí Y Dược học Quân sự, (48), Tr 142-153. Google Scholar
[7]
Lê Thị Xuê và cộng sự (2022), “Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh mắc Gout tại khoa Lão khoa Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương”, Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm, 17(6), Tr 54-60. Google Scholar
[8]
Nguyễn Thị Thu Trang (2024), “Tổng quan về cơ chế ức chế xanthin oxidase của các dẫn chất flavonoid trong điều trị Gout”, Tạp chí y học cộng đồng, 65(12), Tr 194-198. Google Scholar
[9]
Bùi Đặng Minh Trí và cộng sự (2021), “Thực trạng sử dụng thuốc điều trị Gout ở bệnh nhân ngoại trú”, Tạp chí y học cộng đồng, 64 (3), Tr 39-43. Google Scholar
[10]
Li R, Du, L., Zong, Y, , H, Wang, Q, Xie, L, Yang, B, ... & Gao, J (2018), “Hyperuricemia and its related diseases: mechanisms and advances in therapy”, Signal Transduction and Targeted Therapy, 9(1), pp 212 - 218 Google Scholar