Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ16 06/11/2026

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH VÀ SỰ BỘC LỘ DẤU ẤN HÓA MÔ MIỄN DỊCH SSTR2A TRONG U MÀNG NÃO TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2025-2026

Nguyễn Tùng Ngọc, Trịnh Quang Diện, Nguyễn Sỹ Lánh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD16.7001
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm mô bệnh học và mức độ bộc lộ dấu ấn hóa mô miễn dịch SSTR2A trong u màng não, đồng thời tìm hiểu mối liên quan giữa mức độ bộc lộ SSTR2A với một số đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 118 bệnh nhân được phẫu thuật cắt u và chẩn đoán xác định u màng não nguyên phát bằng mô bệnh học tại Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, từ tháng 1/2025 đến tháng 6/2026. Các trường hợp được phân độ mô học theo WHO 2021 và nhuộm hóa mô miễn dịch với dấu ấn SSTR2A, đánh giá kết quả theo thang điểm do Barresi V và cộng sự đề xuất (điểm ID = điểm cường độ bắt màu IS [4 mức, 0-3] × điểm diện tích vùng dương tính ASP [5 mức, 0-4], thang điểm 0-12).

Kết quả: Tuổi trung bình 55,3 ± 13,3; tỷ lệ nữ/nam là 2,8/1. U màng não độ 1, 2 và 3 chiếm lần lượt 80,5%, 16,9% và 2,5%; type biểu mô (33,1%) và type xơ (22,0%) thường gặp nhất. Nam giới và kích thước u lớn có liên quan có ý nghĩa thống kê với độ mô học cao (p < 0,001). Toàn bộ 118/118 trường hợp (100%) dương tính với SSTR2A; 63,6% có mức độ bộc lộ mạnh (ID 9-12). Không có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm ID giữa các độ mô học (p = 0,29), tuy nhiên type xơ có điểm ID trung bình thấp hơn có ý nghĩa so với type biểu mô, chuyển tiếp và không điển hình (p < 0,01).

Kết luận: SSTR2A bộc lộ gần như hằng định trong u màng não với cường độ đa dạng, không phụ thuộc vào độ mô học nhưng có xu hướng thấp hơn ở type xơ. Kết quả góp phần khẳng định giá trị của SSTR2A như một dấu ấn hỗ trợ chẩn đoán và định hướng điều trị đích trong u màng não.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Louis D.N, Perry A et al. The 2021 WHO classification of tumors of the central nervous system: a summary. Neuro Oncol, 2021, 23 (8): 1231-1251. doi: 10.1093/neuonc/noab106. Google Scholar
[2]
[2] Ostrom Q.T, Price M et al. CBTRUS statistical report: primary brain and other central nervous system tumors diagnosed in the United States in 2016-2020. Neuro Oncol, 2023, 25 (12 Suppl 2): iv1-iv99. doi: 10.1093/neuonc/noad149. Google Scholar
[3]
[3] Barresi V, Alafaci C et al. Sstr2A immunohistochemical expression in human meningiomas: is there a correlation with the histological grade, proliferation or microvessel density? Oncol Rep, 2008, 20 (3): 485-492. Google Scholar
[4]
[4] Kurz S.C, Zan E et al. Evaluation of the SSTR2-targeted radiopharmaceutical 177Lu-DOTATATE and SSTR2-specific 68Ga-DOTATATE PET as imaging biomarker in patients with intracranial meningioma. Clin Cancer Res, 2024, 30 (4): 680-686. doi: 10.1158/1078-0432.CCR-23-2533. Google Scholar
[5]
[5] Nguyễn Hữ Hoạt và cộng sự. Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của u màng não ở người lớn. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 504 (1): 118-122. doi: 10.51298/vmj.v504i1.846 Google Scholar
[6]
[6] Remmele W, Stegner H.E. Vorschlag zur einheitlichen Definition eines Immunreaktiven Score (IRS) für den immunhistochemischen Östrogenrezeptor-Nachweis (ER-ICA) im Mammakarzinomgewebe. Der Pathologe, 1987, 8 (3): 138-140. Google Scholar
[7]
[7] Nguyễn Duy Tuyển và cộng sự. Đánh giá kết quả phẫu thuật u màng não có nút mạch trước mổ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2025, 187 (2): 196-203. doi: 10.52852/tcncyh.v187i2.3089 Google Scholar
[8]
[8] Lê Viết Thắng và cộng sự. Mối liên quan giữa Ki67 trong phân độ và tiên lượng u màng não trên lều. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 539 (3): 98-101. doi: 10.51298/vmj.v539i3.10032 Google Scholar
[9]
[9] Wang J.Z et al. Molecular classification to refine surgical and radiotherapeutic decision-making in meningioma. Nat Med, 2024, 30 (11): 3173-3183. doi: 10.1038/s41591-024-03167-4. Google Scholar