Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ16 05/11/2026

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN CÓ BIẾN CHỨNG SỐT, LẠNH RUN TRONG LỌC MÁU TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT: KẾT QUẢ THEO DÕI TRONG 5 NĂM

Nguyễn Thị Hạnh, Lê Thị Kim Cương, Đoàn Văn Đàm, Hoàng Tuấn Nghĩa, Hoàng Thị Kim Trang, Nguyễn Bách
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD16.6997
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu:

 Đánh giá tỷ lệ và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân xuất hiện biến chứng sốt, lạnh run trong quá trình lọc máu tại Bệnh viện Thống Nhất trong giai đoạn 2020–2024.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp theo dõi dọc trên tất cả bệnh nhân lọc máu cấp cứu và chu kỳ từ 1/1/2020 đến 31/12/2024, tiêu chuẩn chọn bệnh: ổn định sinh hiệu trước lọc máu, xuất hiện sốt và/hoặc lạnh run trong lọc máu. Tiêu chuẩn loại trừ: các trường hợp lọc máu do ngộ độc, bệnh nặng cần vận mạch, thay huyết tương, hoặc truyền máu trong lọc máu

Kết quả: Trong giai đoạn 2020–2024, ghi nhận 114.282 ca lọc máu đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu tại Bệnh viện Thống Nhất. Số lượng ca lọc máu gia tăng hằng năm, với mức tăng cao nhất vào năm 2024 (55,7% so với 2020). Tỷ lệ biến chứng sốt, lạnh run dao động từ 0,039% đến 0,113% trong tổng số ca lọc máu, cao hơn trong hai năm gần đây, tuy nhiên do số biến cố mỗi năm còn ít nên chưa thể khẳng định đây là một xu hướng tăng thật sự nếu không có kiểm định xu hướng theo năm. Nồng độ endotoxin đo lần đầu dao động từ 0,143–0,262 EU/mL. Biến chứng thường xuất hiện trong 1–2 giờ đầu lọc máu (75%), với biểu hiện lạnh run đơn thuần hoặc kèm sốt chiếm 91,2%. Tỷ lệ cấy máu dương tính là 49,3%, trong khi cấy dịch lọc từ máy có kết quả dương tính thấp (14,5%).

Có 72,5% bệnh nhân được xử trí ổn và tiếp tục lọc máu, 27,5% phải ngừng lọc và nhập viện.
Kết luận: Biến chứng sốt, lạnh run trong lọc máu vẫn là vấn đề đáng quan tâm, với xu hướng ghi nhận nhiều hơn trong hai năm gần đây song song với sự tăng nhanh số lượng ca lọc máu, cần được theo dõi thêm bằng các kiểm định thống kê phù hợp. Điều này cho thấy cần tăng cường giám sát vi sinh định kỳ và tối ưu công suất hệ thống Ro nhằm hạn chế liên quan đến nội độc tố và nhiễm khuẩn

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Nephrology Ali M., Ejaz A., Iram H., Solangi SA, Junejo AM, Solangi SA., (2021), “Frequency of intradialytic complications in patients of end-stage renal disease on maintenance hemodialysis”. Cureus, 13(1), pp.1-7. https://doi.org/10.7759/cureus.12641 Google Scholar
[2]
2. Nguyễn Hữu Dũng (2021), “Báo cáo thực trạng lọc máu tại 28 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ”. Bộ Y tế, Hà Nội. Google Scholar
[3]
3. Bộ Y tế (2018), “Thông tư số 43/2018/TT-BYT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”, Bộ Y tế; Hà Nội. Google Scholar
[4]
4. Daugirdas JT. (2007), “Complications during hemodialysis”. In: Daugirdas JT, Blake PG, Ing TS, editors. Handbook of Dialysis. 4th ed. Philadelphia: Lippincott Williams & Wilkins; p.170-191. Google Scholar
[5]
5. Bệnh viện Thống Nhất (2022), “Quy trình thận nhân tạo số 2-21, ban hành năm 2020, sửa đổi lần 2 năm 2022 theo ISO 9001:2015”, TP Hồ Chí Minh. Google Scholar
[6]
6. Nguyen DB, Arduino MJ, Patel PR. Hemodialysis-associated infections. In: Himmelfarb J, Ikizler TA, editors. Chronic Kidney Disease, Dialysis, and Transplantation. 4th ed. Philadelphia: Elsevier; 2019. p.389-410. https://doi.org/10.1016/B978-0-323-52978-5.00025-2 Google Scholar
[7]
7. Islam F, Siddiqui FA, Sabir S, Butt B, Qayyum M, Kiani IG, et al. (2017), “Frequencies of acute intradialytic complications: a single-centre experience”. Pakistan Armed Forces Medical Journal. 67(2). pp.253-258. Google Scholar
[8]
8. Association for the Advancement of Medical Instrumentation (AAMI) (2014), “ANSI/AAMI/ISO 13959:2014 – Water for Hemodialysis and Related Therapies”, Arlington (VA). Google Scholar
[9]
9. Kumar A, Soni A, Patel M., (2016), “Adverse reactions related to dialysis membranes: a study on their incidence and characteristics”. Journal of Nephrology. 29(5). pp.659-666. Google Scholar