Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 04/11/2026

LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG NGƯỜI BỆNH UNG THƯ TUYẾN GIÁP ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY NĂM 2024-2025

Lâm Nguyễn Nhã Trúc, Trần Quang Phục, Nguyễn Văn Ba
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6984
20 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả có hệ thống đặc điểm dịch tễ lâm sàng, biểu hiện lâm sàng và một số đặc điểm cận lâm sàng của người bệnh ung thư tuyến giáp điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2024-2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích trên 282 người bệnh từ 18 tuổi trở lên có nhân tuyến giáp, được khám, siêu âm và có kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật hoặc sinh thiết trong giai đoạn 01/10/2024-31/10/2025. Toàn bộ 282 người bệnh được dùng để xác định tỷ lệ ác tính và phân tích một số yếu tố liên quan; 217 trường hợp ung thư tuyến giáp được phân tích sâu về tiền sử, triệu chứng, khám lâm sàng, siêu âm, hormon tuyến giáp, phân loại Bethesda, giai đoạn TNM và mô bệnh học.

Kết quả: Có 217/282 người bệnh được xác định ung thư tuyến giáp, chiếm 76,95%. Tỷ lệ ác tính không khác biệt có ý nghĩa theo giới và nhóm tuổi; người bệnh cư trú ở thành thị có khả năng thuộc nhóm ung thư cao hơn nhóm ở nông thôn (OR = 1,93; KTC 95%: 1,10-3,37; p = 0,021). Trong 217 trường hợp ung thư, 63,13% được phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ; các triệu chứng thường gặp gồm khối/hạch vùng cổ (18,89%), nuốt vướng (13,82%), đau/tức nặng vùng cổ (10,14%) và khó thở (9,68%). Chỉ 27,19% sờ thấy nhân khi khám. Nhân < 20 mm chiếm 77,42%; kích thước trung bình ở nhóm có triệu chứng lớn hơn nhóm không triệu chứng (21,05 ± 12,5 mm so với 12,6 ± 9,75 mm; p < 0,01). Bethesda V-VI chiếm 73,27%. Giai đoạn I chiếm 78,34%, giai đoạn II 21,20%, giai đoạn IV 0,46%; ung thư biểu mô thể nhú chiếm 98,16%.

Kết luận: Ung thư tuyến giáp trong quần thể người bệnh có nhân giáp được phẫu thuật/sinh thiết tại Bệnh viện Chợ Rẫy có tỷ lệ cao, phần lớn được phát hiện ở giai đoạn sớm và nhiều trường hợp chưa có triệu chứng rõ. Siêu âm, tế bào học và mô bệnh học có vai trò trung tâm trong phát hiện và phân tầng bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Mattiuzzi C, Lippi G. Current cancer epidemiology. J Epidemiol Glob Health, 2019, 9 (4): 217-222. doi: 10.2991/jegh.k.191008.001. Google Scholar
[2]
[2] Deng Y et al. Global burden of thyroid cancer from 1990 to 2017. JAMA Netw Open, 2020, 3 (6): e208759. doi: 10.1001/jamanetworkopen.2020.8759. Google Scholar
[3]
[3] Pham Xuan Dung et al. Trends in incidence and histological pattern of thyroid cancer in Ho Chi Minh city, Vietnam (1996-2015): a population-based study. BMC Cancer, 2021, 21 (1): 296. doi: 10.1186/s12885-021-08023-z. Google Scholar
[4]
[4] Bộ Y tế. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu (Ban hành kèm theo Quyết định số 1514/QĐ-BYT ngày 01 tháng 4 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Google Scholar
[5]
[5] Vũ Tất Giao, Nguyễn Duy Huề. Nghiên cứu giá trị siêu âm trong phân loại TIRADS các tổn thương khu trú tuyến giáp. Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam, 2016, (24): 11-18. doi: 10.55046/vjrnm.24.624.2016. Google Scholar
[6]
[6] Zane M et al. Estrogen and thyroid cancer is a stem affair: a preliminary study. Biomed Pharmacother, 2017, 85: 399-411. doi: 10.1016/j.biopha.2016.11.043. Google Scholar
[7]
[7] McDow A.D et al. Impact of rurality on national trends in thyroid cancer incidence and long-term survival. J Rural Health, 2020, 36 (3): 326-333. doi: 10.1111/jrh.12374. Google Scholar
[8]
[8] Huston-Paterson H.H et al. Rural-urban disparities in the continuum of thyroid cancer care: analysis of 92,794 cases. Thyroid, 2024, 34 (5): 635-645. doi: 10.1089/thy.2023.0357. Google Scholar
[9]
[9] Phạm Ngọc Minh và cộng sự. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng di căn hạch cổ trên bệnh nhân ung thư tuyến giáp. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 550 (1): 20-23. doi: 10.51298/vmj.v550i1.14041. Google Scholar
[10]
[10] Lê Ngọc Phúc, Nguyễn Xuân Hậu. Kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú tại Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 521 (1): 17-22. doi: 10.51298/vmj.v521i1.3934. Google Scholar