Mục tiêu: Đánh giá giá trị chẩn đoán ung thư tuyến giáp của một số dấu hiệu siêu âm ở nhóm nhân giáp nguy cơ cao theo hệ thống ACR TI-RADS.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 282 người bệnh có nhân tuyến giáp được siêu âm, phân loại ACR TI-RADS đầy đủ và có mô bệnh học đối chiếu tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/10/2024 đến 31/10/2025; gồm 217 trường hợp ác tính và 65 trường hợp lành tính. Các dấu hiệu được phân tích gồm thành phần đặc, giảm âm, hình dạng cao hơn rộng, bờ đa thùy/không đều hoặc xâm lấn ngoài bao và vi vôi hóa. Kết quả mô bệnh học được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu. Tính OR, KTC 95%, Sn, Sp, PPV, NPV, LR+, LR- và chỉ số Youden.
Kết quả: Nốt đặc hoặc gần như đặc gặp ở 81,2%; giảm âm 67,4%, rất giảm âm 12,4%; cao hơn rộng 43,6%; bờ đa thùy/không đều 46,8%, xâm lấn ngoài 31,2%; đốm hồi âm dày lấm tấm 55,7%. So với mô bệnh học, nhân đặc liên quan ác tính với OR = 4,22 (KTC 95%: 2,23-7,99), giảm âm OR = 2,20 (1,19-4,07), cao hơn rộng OR = 5,24 (2,60-10,53), vi vôi hóa OR = 7,49 (3,89-14,46) và bờ đa thùy/không đều hoặc xâm lấn ngoài bao OR = 233,20 (76,48-711,07). Dấu hiệu bờ bất thường/xâm lấn có Sn 97,7%, Sp 84,6%, PPV 95,5%, NPV 91,7%, LR+ 6,34, LR- 0,03 và Youden 0,823. Vi vôi hóa và cao hơn rộng có PPV lần lượt 91,3% và 91,1%.
Kết luận: Trong quần thể nhân giáp nguy cơ cao, bờ đa thùy/không đều hoặc xâm lấn ngoài bao là dấu hiệu có hiệu năng chẩn đoán nổi bật nhất. Nhân đặc và giảm âm có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu thấp; cao hơn rộng và vi vôi hóa có giá trị xác nhận ác tính tốt hơn.