Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 04/11/2026

ĐÁP ỨNG SÂU VỀ HÌNH ẢNH VÀ SINH HÓA VỚI PHÁC ĐỒ CÓ CETUXIMAB TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG DI CĂN GAN LAN TỎA: BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP

Hà Văn Trí, Hồ Viết Hoành, Vũ Anh Hải, Phạm Khánh Hưng, Nguyễn Trọng Hòe, Thái Khắc Thảo
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6979
13 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Tổng quan: Di căn gan lan tỏa từ ung thư đại trực tràng có tiên lượng xấu. Liệu pháp kháng thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) cải thiện rõ kết cục ở nhóm u đại tràng trái, RAS và BRAF không đột biến, nhưng đáp ứng gần hoàn toàn trên hình ảnh khi gánh nặng u rất lớn vẫn hiếm.

Tóm tắt ca bệnh: Bệnh nhân nữ 53 tuổi, ung thư biểu mô tuyến đại tràng sigma kèm di căn gan đồng thời lan tỏa hai thùy, hơn 30 ổ, ổ lớn nhất 50-60 mm; RAS và BRAF không đột biến, có tình trạng hệ sửa chữa bắt cặp sai còn nguyên vẹn (proficient mismatch repair, pMMR) trên hóa mô miễn dịch; kháng nguyên carcinoembryonic (CEA) ban đầu 6 600 ng/mL, đỉnh 8 776 ng/mL.

Can thiệp và diễn biến: Do nguy cơ tắc ruột, bệnh nhân được cắt u nguyên phát kèm nạo vét hạch, sau đó điều trị toàn thân bằng phác đồ mFOLFOX6 phối hợp cetuximab trong 12 chu kỳ (liều chuẩn), rồi chuyển duy trì bằng UFT (tegafur-uracil) phối hợp cetuximab. Sau 12 chu kỳ, các ổ di căn gan thoái triển rõ trên hình ảnh (tổn thương đích lớn nhất từ 50-60 mm còn 15-20 mm), tín hiệu T2 thấp, bắt thuốc viền mỏng, không hạn chế khuếch tán; PET/CT không còn ổ tăng hấp thu fluorodeoxyglucose phát hiện được. CEA giảm hơn 99,9% về 7 ng/mL và duy trì 7-9 ng/mL. Độc tính chủ yếu (phân độ theo CTCAE phiên bản 5.0) gồm giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu độ 2 (kiểm soát bằng filgrastim và eltrombopag), độc tính thần kinh ngoại vi độ 2 do oxaliplatin, và độc tính da độ 1 do cetuximab (kiểm soát bằng kem dưỡng ẩm và fucidin-H). Tại thời điểm 15 tháng kể từ chẩn đoán, bệnh nhân ổn định.

Kết luận: Ca bệnh này ghi nhận đáp ứng sinh hóa và hình ảnh rất sâu sau điều trị bằng phác đồ phối hợp có cetuximab ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng trái di căn gan lan tỏa, mang kiểu gen RAS/BRAF không đột biến và pMMR trên hóa mô miễn dịch. Diễn biến lâm sàng gợi ý khả năng kiểm soát bệnh kéo dài; khái niệm ngủ đông u chỉ được xem như một giả thuyết sinh học và không thể khẳng định từ một ca bệnh với thời gian theo dõi hiện tại.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Sung H, Ferlay J, Siegel RL, Laversanne M, Soerjomataram I, Jemal A, et al. Global cancer statistics 2020: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin. 2021;71(3):209-249. doi:10.3322/caac.21660 Google Scholar
[2]
2. Martin J, Petrillo A, Smyth EC, Shaida N, Khwaja S, Cheow HK, et al. Colorectal liver metastases: current management and future perspectives. World J Clin Oncol. 2020;11(10):761-808. doi:10.5306/wjco.v11.i10.761 Google Scholar
[3]
3. Misiakos EP, Karidis NP, Kouraklis G. Current treatment for colorectal liver metastases. World J Gastroenterol. 2011;17(36):4067-4075. doi:10.3748/wjg.v17.i36.4067 Google Scholar
[4]
4. Heinemann V, von Weikersthal LF, Decker T, Kiani A, Kaiser F, Al-Batran SE, et al. FOLFIRI plus cetuximab or bevacizumab for advanced colorectal cancer: final survival and per-protocol analysis of FIRE-3, a randomised clinical trial. Br J Cancer. 2021;124(3):587-594. doi:10.1038/s41416-020-01140-9 Google Scholar
[5]
5. Tejpar S, Stintzing S, Ciardiello F, Tabernero J, Van Cutsem E, Beier F, et al. Prognostic and predictive relevance of primary tumor location in patients with RAS wild-type metastatic colorectal cancer: retrospective analyses of the CRYSTAL and FIRE-3 trials. JAMA Oncol. 2017;3(2):194-201. doi:10.1001/jamaoncol.2016.3797 Google Scholar
[6]
6. Chen D, Gu K, Wang H. Optimizing sequential treatment with anti-EGFR and VEGF mAb in metastatic colorectal cancer: current results and controversies. Cancer Manag Res. 2019;11:1705-1716. doi:10.2147/CMAR.S196170 Google Scholar
[7]
7. Ciardiello F, Tortora G. EGFR antagonists in cancer treatment. N Engl J Med. 2008;358(11):1160-1174. doi:10.1056/NEJMra0707704 Google Scholar
[8]
8. Yoshida M, Shimura T, Sato M, Ebi M, Nakazawa T, Takeyama H, et al. A novel predictive strategy by immunohistochemical analysis of four EGFR ligands in metastatic colorectal cancer treated with anti-EGFR antibodies. J Cancer Res Clin Oncol. 2013;139(3):367-378. doi:10.1007/s00432-012-1340-x Google Scholar
[9]
9. Colloca GA, Venturino A, Guarneri D. Carcinoembryonic antigen-related tumor kinetics after eight weeks of chemotherapy is independently associated with overall survival in patients with metastatic colorectal cancer. Clin Colorectal Cancer. 2020;19(4):e200-e207. doi:10.1016/j.clcc.2020.05.007 Google Scholar
[10]
10. van der Reijd DJ, Soykan EA, Heeres BC, Lambregts DMJ, Vollebergh MA, Kuhlmann KFD, et al. Colorectal liver metastases on gadoxetic acid-enhanced MRI: typical characteristics decrease after chemotherapy. Clin Imaging. 2025;119:110417. doi:10.1016/j.clinimag.2025.110417 Google Scholar
[11]
11. Fernández-Hernández S, Hidalgo-León MÁ, Lacalle-González C, Olivera-Salazar R, Ochieng’ Otieno M, García-Foncillas J, et al. Dormancy in colorectal carcinoma: detection and therapeutic potential. Biomolecules. 2025;15(8):1119. doi:10.3390/biom15081119 Google Scholar
[12]
12. Dueland S, Syversveen T, Solheim JM, Solberg S, Grut H, Bjørnbeth BA, et al. Survival following liver transplantation for patients with nonresectable liver-only colorectal metastases. Ann Surg. 2020;271(2):212-218. doi:10.1097/SLA.0000000000003404 Google Scholar
[13]
13. Wei L, Lin Z, Xie S, Ruan D, Jiang W, Cui Y, et al. Complete response with cetuximab-based treatment of metastatic colorectal cancers: two case reports and literature review. Front Oncol. 2022;12:798515. doi:10.3389/fonc.2022.798515 Google Scholar