Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 04/11/2026

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC DINH DƯỠNG CỦA BÀ MẸ TẠI PHÒNG KHÁM TƯ VẤN DINH DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC NĂM 2025-2026

Đỗ Khánh Huyền, Nguyễn Thị Lâm, Đặng Thị Thu Thảnh, Triệu Tuyết Nhung, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Vân Anh, Phạm Văn Phú
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6966
37 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi và mô tả thực hành chăm sóc của bà mẹ, tình trạng biếng ăn của trẻ tại Phòng khám Tư vấn dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc (TCI).

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 206 cặp mẹ con đến khám tại Khoa Dinh dưỡng. Trẻ được cân, đo và bà mẹ được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi về tình hình bú mẹ, ăn bổ sung, ăn đa dạng thực phẩm và tình trạng biếng ăn của trẻ.

Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân và gầy còm lần lượt là 10,7%, 8,7% và 4,4%; tỷ lệ thừa cân là 1,0%. Suy dinh dưỡng phối hợp giữa nhẹ cân và thấp còi chiếm tỷ lệ cao nhất (4,9%). Tỷ lệ suy dinh dưỡng có xu hướng tăng theo nhóm tuổi (p < 0,05). Có 28,4% trẻ được bú mẹ trong giờ đầu sau sinh, 60,1% được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, 75,3% được ăn bổ sung đúng thời điểm (6–8 tháng tuổi) và 60,7% trẻ biếng ăn.

Kết luận: Suy dinh dưỡng thể thấp còi ở mức cao, nhẹ cân ở mức trung bình và gầy còm ở mức nhẹ. Thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ còn hạn chế, trong khi tỷ lệ biếng ăn còn cao. Cần tăng cường khám, tư vấn và can thiệp dinh dưỡng kịp thời cho trẻ.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Viện Dinh dưỡng. Tổng điều tra Dinh dưỡng 2019–2020. Hà Nội: 2021. Google Scholar
[2]
2. Bộ Y tế. Quyết định số 3777/QĐ-BYT: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em bằng các chỉ số nhân trắc cơ bản tại cộng đồng. Hà Nội; 2024. Google Scholar
[3]
3. World Health Organization. Indicators for Assessing Infant and Young Child Feeding Practices: Definitions and Measurement Methods [Internet]. World Health Organization; 2021 [cited 26 Tháng Tư 2025]. Available at: https://www.who.int/publications/i/item/9789240018389 Google Scholar
[4]
4. Hoàng Thị Bạch Yến. Xây dựng và ứng dụng thang đo biếng ăn vào nghiên cứu thực trạng biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Huế năm 2020. Luận án tiến sĩ. Đại học Huế - Trường Đại học Y Dược; 2020 Google Scholar
[5]
5. Nguyễn Thị Huyền Trang. Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai năm 2023-2024. Luận văn thạc sĩ. Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[6]
6. Nguyễn Thị Thu Hằng. Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã thuộc huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Luận văn thạc sĩ. Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[7]
7. Hoàng Đức Phúc, Trần Quang Trung, Nguyễn Thị Kiều Anh, Đặng Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Mai Lan, Nguyễn Thị Hải Yến. Thực trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại một số quận huyện ở Hà Nội năm 2019. Tạp chí Y học Dự phòng. 2020;30(6):53-60, doi:10.51403/0868-2836/2020/177 Google Scholar
[8]
8. Trần Thị Duyên. Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ dưới 5 tuổi đến khám tại Viện Dinh dưỡng năm 2018. Luận văn thạc sĩ. Đại học Y Hà Nội; 2018. Google Scholar
[9]
9. Tổng Cục Thống Kê Và UNICEF. Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2014. 2015. Báo Cáo Cuối Cùng. Hà Nội. Việt Nam Google Scholar
[10]
10. Nguyen Trong Hung, Pham Thi Thu Huong, Tran Thi Tra Phuong, Truong Tuyet Mai, Nguyen Thi Lam, Nguyen Thi Luong Hanh, và c.s. The Current Situation of Anemia and Zinc Deficiency of Children Ages 6-59 Months with Anorexia WHO Examined at National Institute of Nutrition. Sys Rev Pharm. 2021;12(01):1422–1425, doi:10.31838/srp.2021.1.203 Google Scholar