Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 04/11/2026

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN GÚT MẠN CÓ HẠT TOPHI TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108

Đinh Thị Tuyết, Nguyễn Kim Liên, Trần Thị Thúy, Nguyễn Thi Thanh, Phạm Thị Hồng Hạnh, Phạm Thị Hương, Phạm Phương An
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6956
10 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng và phân tích một số yếu tố liên quan đến nguy cơ suy dinh dưỡng/suy dinh dưỡng ở bệnh nhân gút mạn có hạt tophi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 102 bệnh nhân gút mạn có hạt tophi. Tình trạng dinh dưỡng được sàng lọc bằng MNA-SF, kết hợp BMI, vòng cánh tay giữa, albumin và hemoglobin. So sánh hai nhóm MNA-SF ≥ 12 và MNA-SF < 12 được thực hiện bằng kiểm định Mann-Whitney U; hồi quy logistic đơn biến và đa biến được sử dụng để khảo sát các yếu tố liên quan.

Kết quả: Điểm MNA-SF trung vị là 12 (IQR: 11-14); 30,4% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng và 5,9% suy dinh dưỡng, tương ứng 36,3% có MNA-SF < 12. Nhóm MNA-SF < 12 có tuổi, số đợt gút cấp, số lượng và kích thước hạt tophi cao hơn, trong khi albumin và hemoglobin thấp hơn nhóm MNA-SF ≥ 12 (p < 0,05). Trong mô hình đa biến, có ≥ 3 đợt gút cấp/12 tháng liên quan với MNA-SF < 12, aOR = 2,51 (KTC 95%: 1,02-6,18; p = 0,045).

Kết luận: Nguy cơ suy dinh dưỡng/suy dinh dưỡng theo MNA-SF gặp ở hơn 1/3 bệnh nhân gút mạn có hạt tophi. Tần suất gút cấp cao là yếu tố còn liên quan có ý nghĩa sau hiệu chỉnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Dalbeth N, Gosling A.L, Gaffo A, Abhishek A. Gout. Lancet, 2021, 397 (10287): 1843-1855. doi: 10.1016/S0140-6736(21)00569-9. Google Scholar
[2]
[2] Khanna P.P, Nuki G, Bardin T et al. Tophi and frequent gout flares are associated with impairments to quality of life, productivity, and increased healthcare resource use: results from a cross-sectional survey. Health Qual Life Outcomes, 2012, 10: 117. doi: 10.1186/1477-7525-10-117. Google Scholar
[3]
[3] FitzGerald J.D, Dalbeth N, Mikuls T et al. 2020 American College of Rheumatology Guideline for the Management of Gout. Arthritis Care Res (Hoboken), 2020, 72 (6): 744-760. doi: 10.1002/acr.24180. Google Scholar
[4]
[4] Kaiser M.J, Bauer J.M, Ramsch C et al. Validation of the mini nutritional assessment short-form (MNA-SF): a practical tool for identification of nutritional status. J Nutr Health Aging, 2009, 13 (9): 782-788. doi: 10.1007/s12603-009-0214-7. Google Scholar
[5]
[5] Neogi T et al. 2015 Gout Classification Criteria: an American College of Rheumatology/European League Against Rheumatism collaborative initiative. Arthritis Rheumatol, 2015, 67 (10): 2557-2568. doi: 10.1002/art.39254. Google Scholar
[6]
[6] WHO Expert Consultation. Appropriate body-mass index for Asian populations and its implications for policy and intervention strategies. Lancet, 2004, 363 (9403): 157-163. doi: 10.1016/S0140-6736(03)15268-3. Google Scholar
[7]
[7] Fu T, Cao H, Yin R et al. Associated factors with functional disability and health-related quality of life in Chinese patients with gout: a case-control study. BMC Musculoskelet Disord, 2017, 18: 429. doi: 10.1186/s12891-017-1787-7. Google Scholar
[8]
[8] Nguyen T.T.H, Vu H.T.T, Nguyen T.N et al. Assessment of nutritional status in older diabetic outpatients and related factors in Hanoi, Vietnam. J Multidiscip Healthc, 2019, 12: 601-606. doi: 10.2147/JMDH.S194155. Google Scholar
[9]
[9] Pham T.L.A, Le N.T.V, Doan D.T, Pham N.T. Malnutrition and other associated factors among the hospitalized elderly in Vietnam: a cross-sectional study. Medicine (Baltimore), 2024, 103 (36): e39563. doi: 10.1097/MD.0000000000039563. Google Scholar
[10]
[10] Singh J.A. The impact of gout on patient’s lives: a study of African-American and Caucasian men and women with gout. Arthritis Res Ther, 2014, 16 (3): R132. doi: 10.1186/ar4589. Google Scholar