Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa tình trạng nhiễm khuẩn và tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh sau phẫu thuật chấn thương sọ não nặng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có phân tích được thực hiện trên 67 người bệnh từ 18 tuổi trở lên bị chấn thương sọ não nặng (Glasgow ≤ 8 điểm) sau phẫu thuật thần kinh, điều trị tại Khoa Hồi sức Thần kinh, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 2-10 năm 2025. Tình trạng nhiễm khuẩn được đánh giá theo tiêu chuẩn CDC/NHSN; tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng chỉ số khối cơ thể (BMI), chu vi vòng cánh tay giữa (MUAC), khối lượng mỡ cơ thể (FBM), khối lượng nạc cơ thể (LBM), đánh giá chủ quan toàn diện (SGA) và đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng (mNUTRIC) tại ngày 1, ngày 7 và ngày 14 sau phẫu thuật. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 với các phép kiểm tương quan Pearson và kiểm định t độc lập.
Kết quả: Các chỉ số dinh dưỡng có xu hướng giảm dần trong 14 ngày đầu sau phẫu thuật. Mối tương quan giữa các marker viêm (WBC, PCT, CRP) và các chỉ số dinh dưỡng đều yếu ((|r| từ -0,274 đến 0,294). Nhóm người bệnh có nhiễm khuẩn có FBM cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không nhiễm khuẩn tại ngày 1 và ngày 7 sau phẫu thuật (p = 0,011), trong khi BMI, MUAC, LBM và SGA không khác biệt (p > 0,05). Tại ngày thứ 7 sau phẫu thuật, nhóm có CRP ≥ 100 mg/L có điểm mNUTRIC cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm CRP < 100 mg/L (3,50 ± 1,57 so với 2,56 ± 1,44; p = 0,014).
Kết luận: Mối liên quan giữa các marker viêm và các chỉ số dinh dưỡng ở người bệnh sau phẫu thuật chấn thương sọ não nặng nhìn chung yếu. Người bệnh có nhiễm khuẩn có khối lượng mỡ cơ thể cao hơn trong giai đoạn sớm sau phẫu thuật, trong khi tình trạng viêm nặng (CRP ≥ 100 mg/L) liên quan đến nguy cơ dinh dưỡng cao hơn theo thang điểm mNUTRIC.