Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 25/10/2026

THỰC TRẠNG VIÊM TĨNH MẠCH NGOẠI VI ĐẶT KIM LUỒN Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2026

Nguyễn Thị Thu Vân, Phạm Ngọc Toàn, Dương Thị Hòa, Nguyễn Thị Thu Thùy, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hoàn, Phạm Quốc Khương, Nguyễn Thị Thái Hà
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6877
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát và đánh giá thực trạng viêm tĩnh mạch ngoại vi liên quan đến sử dụng kim luồn tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2026.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu được tiến hành trên 300 bệnh nhi tại Khoa Điều trị tự nguyện, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 1-5 năm 2026, sử dụng mẫu bệnh án nghiên cứu do nhóm nghiên cứu tự thiết kế và đánh giá viêm tĩnh mạch theo thang điểm VIP theo hướng dẫn của Hiệp hội Điều dưỡng Tiêm truyền Mỹ và Hiệp hội Điều dưỡng Việt Nam.

Kết quả: Trong số 300 bệnh nhi, nhóm tuổi nhỏ hơn 2 tuổi chiếm đa số (60%), tỷ lệ nam (57,7%) nhiều hơn nữ (42,3%). Tỷ lệ viêm tĩnh mạch 11,7%, viêm tĩnh mạch độ 1, độ 2 lần lượt là 9,4% và 2,3%, không quan sát thấy viêm tĩnh mạch độ 3, độ 4, độ 5. Thời gian khởi phát viêm tĩnh mạch trung bình 47,63 ± 13,81 giờ.

Kết luận: Viêm tĩnh mạch ngoại vi đặt kim luồn ở mức trung bình. Tất cả các trường hợp đều ở phân độ nhẹ (độ 1 hoặc độ 2). Viêm tĩnh mạch xuất hiện sớm trong vòng 72 giờ, do đó cần kiểm tra, đánh giá PIVC hàng ngày. Điều dưỡng nhận diện sớm triệu chứng viêm tĩnh mạch và chỉ định loại bỏ PIVC sớm có vai trò quyết định trong ngăn ngừa viêm tĩnh mạch tiến triển nặng.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Bộ Y tế. Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết trên người bệnh đặt catheter trong lòng mạch (Ban hành kèm theo Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012). Google Scholar
[2]
[2] Nickey B et al. Infusion therapy standards of practice, 9th edition. Journal Infusion Nurses, 2024, 47(1S Suppl 1): S1-S285. doi: 10.1097/NAN.0000000000000532. Google Scholar
[3]
[3] Lê Thu Hoài và cộng sự. Đánh giá tình trạng viêm tĩnh mạch và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhi có đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 557 (1): 230-234. doi: 10.51298/vmj.v557i1.16610 Google Scholar
[4]
[4] Hiệp hội Điều dưỡng Việt Nam. Tài liệu đào tạo liên tục liệu pháp truyền tĩnh mạch an toàn, 2023. Google Scholar
[5]
[5] Suliman M et al. The incidence of peripheral intravenous catheter phlebitis and risk factors among pediatric patients. J Pediatr Nurs, 2020, 50: 89-93. doi: 10.1016/j.pedn.2019.11.006 Google Scholar
[6]
[6] Lê Thị Tình và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2026, 198 (1): 653-662. doi: 10.52852/tcncyh.v198i1.4145 Google Scholar
[7]
[7] World Health Organization. Child and Adoles-cent Health and Development, 2020. Google Scholar
[8]
[8] Nguyễn Thị Quyên và cộng sự. Biến chứng liên quan đến lưu kim luồn tĩnh mạch ngoại vi ở trẻ sơ sinh tại Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2022-2023. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 528 (1): 147-151. doi: 10.51298/vmj.v528i1.5992 Google Scholar
[9]
[9] Đinh Thu Hoài và cộng sự. Biến chứng lưu kim luồn tĩnh mạch và một số yếu tố liên quan ở trẻ em điều trị tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2025. Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam, 2025 (52): 115-126. doi: 10.47972/vjcts.v52i.1500 Google Scholar
[10]
[10] Trần Lê Thu và cộng sự. Current status of peripheral intravenous catheter (PIVC) insertion and management in pediatric patients and related factors at the pediatrics center, Thai Nguyen National Hospital. Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng, 2025 (6): 112-118. doi: 10.54804/yhthvb.6.2025.481 Google Scholar
[11]
[11] Mihala G et al. Phlebitis signs and symptoms with peripheral intravenous catheters: incidence and correlation study. J Infus Nurs, 2018, 41 (4): 260-263. doi: 10.1097/NAN.0000000000000288 Google Scholar