Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ15 25/09/2026

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG THEO THANG SF-36 Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2025

Vũ Nhị Hà, Nguyễn Thị Anh Vân, Ngô Thị Mỹ Bình
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD15.6828
70 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống theo thang SF-36 và khảo sát sự khác biệt về phân bố mức chất lượng cuộc sống theo một số đặc điểm ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 222 người bệnh tăng huyết áp từ 18 tuổi trở lên, đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2025. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng SF-36 bản tiếng Việt qua phỏng vấn trực tiếp; tám lĩnh vực được quy đổi về thang 0–100. Điểm nhóm lĩnh vực thể chất, nhóm lĩnh vực tinh thần và điểm chung là trung bình số học của các lĩnh vực tương ứng. Số liệu được mô tả bằng trung bình ± độ lệch chuẩn, trung vị, khoảng biến thiên và tần số (%); kiểm định Chi-square được sử dụng trong phân tích hai biến với ngưỡng p < 0,05.

Kết quả: Điểm chất lượng cuộc sống chung là 58,88 ± 18,41; điểm trung bình nhóm lĩnh vực thể chất và tinh thần lần lượt là 58,80 ± 19,58 và 58,96 ± 18,45. Đau cơ thể (67,85 điểm) và hoạt động thể chất (65,59 điểm) có điểm cao nhất, trong khi sức khỏe tổng quát thấp nhất (43,07 điểm). Theo ngưỡng phân loại của nghiên cứu, 76,6% người bệnh ở mức trung bình, 23,0% ở mức cao và 0,5% ở mức thấp. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức chất lượng cuộc sống chung và các đặc điểm được khảo sát (p > 0,05). Phân bố mức điểm nhóm lĩnh vực thể chất khác nhau theo nơi ở (p < 0,001), nhưng kết quả này cần được diễn giải thận trọng vì một số nhóm có tần suất nhỏ.

Kết luận: Chất lượng cuộc sống của người bệnh tăng huyết áp ngoại trú ở mức trung bình theo quy ước phân loại của nghiên cứu; lĩnh vực sức khỏe tổng quát có điểm thấp nhất. Kết quả phân tích hai biến theo nơi ở chỉ mang tính thăm dò và không cho phép suy luận quan hệ nhân quả.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. World Health Organization. Global report on hypertension 2025: high stakes: turning evidence into action. Geneva: World Health Organization; 2025. Google Scholar
[2]
2. World Health Organization. Hypertension [Internet]. Geneva: World Health Organization; 2025 [cited 2026 Jul 11]. Available from: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hypertension Google Scholar
[3]
3. Ha DA, Goldberg RJ, Allison JJ, Chu TH, Nguyen HL. Prevalence, awareness, treatment, and control of high blood pressure: a population-based survey in Thai Nguyen, Vietnam. PLoS One. 2013;8(6):e66792. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0066792 Google Scholar
[4]
4. Trevisol DJ, Moreira LB, Kerkhoff A, Fuchs SC, Fuchs FD. Health-related quality of life and hypertension: a systematic review and meta-analysis of observational studies. J Hypertens. 2011;29(2):179–188. https://doi.org/10.1097/HJH.0b013e328340d76f Google Scholar
[5]
5. Kandasamy G, Almanasef M, Orayj K, Alshahrani AM, Alahmari SM. Assessing the impact of hypertension on health-related quality of life: insights from sociodemographic, economic, and clinical features using SF-36. Healthcare (Basel). 2025;13(7):838. https://doi.org/10.3390/healthcare13070838 Google Scholar
[6]
6. Ha NT, Duy HT, Le NH, Khanal V, Moorin R. Quality of life among people living with hypertension in a rural Vietnam community. BMC Public Health. 2014;14:833. https://doi.org/10.1186/1471-2458-14-833 Google Scholar
[7]
7. Jneid S, Jabbour H, Hajj A, Sarkis A, Licha H, Hallit S, et al. Quality of life and its association with treatment satisfaction, adherence to medication, and trust in physician among patients with hypertension: a cross-sectional designed study. J Cardiovasc Pharmacol Ther. 2018;23(6):532–542. https://doi.org/10.1177/1074248418784292 Google Scholar
[8]
8. Aydemir O, Ozdemir C, Koroglu E. The impact of co-morbid conditions on the SF-36: a primary-care-based study among hypertensives. Arch Med Res. 2005;36(2):136–141. https://doi.org/10.1016/j.arcmed.2004.12.009 Google Scholar
[9]
9. Ranzani OT, Kalra A, Di Girolamo C, Curto A, Valerio F, Halonen JI, et al. Urban-rural differences in hypertension prevalence in low-income and middle-income countries, 1990–2020: a systematic review and meta-analysis. PLoS Med. 2022;19(8):e1004079. https://doi.org/10.1371/journal.pmed.1004079 Google Scholar
[10]
10. Tam HL, Chung SF, Wang Q. Urban-rural disparities in hypertension management among middle-aged and older patients: results of a 2018 Chinese national study. Chronic Illn. 2023;19(3):581–590. https://doi.org/10.1177/17423953221102627 Google Scholar
[11]
11. Watkins RE, Plant AJ, Sang D, O’Rourke T, Gushulak B. Development of a Vietnamese version of the Short Form-36 Health Survey. Asia Pac J Public Health. 2000;12(2):118–123. https://doi.org/10.1177/101053950001200211 Google Scholar
[12]
12. Ngô Tuấn Khiêm, Đoàn Thị Huệ, Nguyễn Hoàng Yến, Nguyễn Văn Tuấn. Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng thang điểm SF-36 ở người mất ngủ tại xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;526(1B):325–328. https://doi.org/10.51298/vmj.v526i1B.5473 Google Scholar