Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ15 25/09/2026

GHÉP DA DÀY TOÀN LỚP DIỆN RỘNG TRONG ĐIỀU TRỊ SẸO DI CHỨNG BỎNG VÀ BỆNH LÝ U SẮC TỐ

Phan Thị Thục Trang, Hoàng Thanh Tuấn, Đỗ Trung Quyết, Tống Thanh Hải
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD15.6800
62 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả ghép da dày toàn lớp diện rộng trong điều trị sẹo di chứng bỏng và bệnh lý u sắc tố.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, theo dõi dọc, thực hiện trên 10 bệnh nhân được phẫu thuật ghép da dày toàn lớp diện rộng tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 1-9 năm 2023.

Kết quả: Trong số 10 bệnh nhân nghiên cứu, có 6 nam và 4 nữ; sẹo di chứng bỏng 7 trường hợp và u sắc tố 3 trường hợp. Diện tích tổn khuyết da dao động từ 320-500 cm². Vị trí lấy da chủ yếu ở vùng bẹn đùi (80%), còn lại ở vùng bụng (20%). Có 1 trường hợp tụ máu dưới mảnh da ghép (10%). Dịch tiết thấm băng nhiều gặp ở 30% trường hợp. Không ghi nhận nhiễm trùng vùng da ghép. Bong lớp thượng bì khi thay băng kỳ đầu gặp ở 20% bệnh nhân. Tỷ lệ mảnh da ghép bám sống tốt đạt 80%, không có trường hợp bám sống kém. Đa số mảnh da ghép sống hoàn toàn, chỉ có 1 trường hợp cần ghép da bổ sung.

Kết luận: Ghép da dày toàn lớp diện rộng là phương pháp khả thi và hiệu quả trong điều trị sẹo di chứng bỏng và bệnh lý u sắc tố, cho tỷ lệ bám sống cao và tỷ lệ biến chứng thấp.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Orgill D.P, Ogawa R. Current methods of burn reconstruction. Plastic and Reconstructive Surgery, 2013, 131 (5): 827e-836e. doi: 10.1097/PRS.0b013e31828e2138 Google Scholar
[2]
[2] Đặng Tất Hùng. 5 năm điều trị di chứng bỏng và phẫu thuật tạo hình tại Viện Bỏng Quốc Gia (1/1991 đến 12/1995). Thông tin bỏng, 1996, tr. 9-14. Google Scholar
[3]
[3] Ray S, Rao K. Full thickness skin grafts. In book: Skin Grafts - Indications, Applications and Current Research. InTech, Rijeka, Croatia, 2011. doi: 10.5772/22385 Google Scholar
[4]
[4] Osman O.F, Emara S. Extended use of full-thickness skin grafts, employing variable donor sites. World journal of plastic surgery, 2018, 7 (2): 159-165. Google Scholar
[5]
[5] Yin X et al. The global, regional, and national burden of burns: an analysis of injury by fire, heat, and hot substances in the global burden of disease study 2019. Injury, 2025, 56 (1): 111955. doi: 10.1016/j.injury.2024.111955 Google Scholar
[6]
[6] Bonetti M.A, Egro F.M. The role of microsurgery in burn surgery. Clinics in Plastic Surgery, 2024, 51 (3): 399-408. doi: 10.1016/j.cps.2024.02.005. Google Scholar
[7]
[7] Borman H, Uysal A.C. Tissue expansion for burn reconstruction. In: Color Atlas of Burn Reconstructive Surgery. Springer, 2010, pp. 240-249. Google Scholar
[8]
[8] Abouchadi A et al. The submental flap in facial reconstruction: advantages and limitations. Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 2007, 65 (5): 863-869. doi: 10.1016/j.joms.2006.05.063. Google Scholar
[9]
[9] Dong C et al. Risk factors for tissue expander infection in scar reconstruction: a retrospective cohort study of 2374 consecutive cases. Burns Trauma, 2021, 9: tkaa037. doi: 10.1093/burnst/tkaa037 Google Scholar
[10]
[10] Alsaif A et al. Full thickness skin graft versus split thickness skin graft in paediatric patients with hand burns: systematic review and meta-analysis. Burns, 2023, 49 (5): 1017-1027. doi: 10.1016/j.burns.2022.09.010 Google Scholar